Cam kết Cape Town: Một lời tuyên xưng đức tin và mời gọi thực hành

© 2011 Phong trào Lausanne. Tài liệu này có thể được sao chép toàn bộ hoặc một phần mà không cần xin phép. Tuy nhiên văn bản phải được giữ nguyên văn và cần ghi rõ bản quyền thuộc Phong trào Lausanne. Về quyền xuất bản bằng tiếng Anh hoặc dịch sang các ngôn ngữ khác, xin liên hệ [email protected] Bản tiếng Anh của Cam kết Cape Town cũng đã được xuất bản dưới dạng sách in.

Đề tựa 2

Dẫn nhập 4

Phần I – Cho Chúa là Đấng chúng ta yêu: Lời tuyên xưng đức tin từ Cape Town 7

1. Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước 7

2. Yêu kính Đức Chúa Trời hằng sống 8

3. Yêu kính Chúa Cha 9

4. Yêu kính Chúa Con 10

5. Yêu kính Thánh Linh 11

6. Yêu mến Lời Chúa 12

7. Yêu mến thế gian mà Chúa yêu 14

8. Yêu mến Phúc Âm 17

9. Yêu mến dân sự của Đức Chúa Trời 18

10. Yêu mến sứ mạng của Chúa 20

Phần II – Cho thế gian mà chúng ta muốn giúp đỡ: Lời mời gọi thực hành đức tin từ Cape Town 22

Lời Giới Thiệu 22

IIA. Làm chứng về lẽ thật của Đấng Christ trong thế giới đa nguyên và toàn cầu hóa 22

IIB. Gây dựng hòa bình của Đấng Christ trong thế giới tan vỡ và đầy chia rẽ 26

IIC. Nếp sống bày tỏ tình yêu của Đấng Christ cho những người khác niềm tin 32

IID. Nhìn biết ý muốn của Đấng Christ cho công tác truyền giáo thế giới 36

IIE. Kêu gọi Hội Thánh theo đuổi lối sống khiêm nhường, chánh trực, và đơn giản 41

IIF. Hiệp tác với nhau trong thân thể của Đấng Christ để hiệp nhất trong sứ mạng Cơ Đốc 45

Kết Luận 49

Đề tựa

4.200 lãnh đạo Tin Lành từ 198 quốc gia đã tham dự Hội đồng Tin Lành quốc tế Lausanne III (Cape Town, 16-25 tháng 10 năm 2010). Hàng trăm ngàn người khác cũng đã tham gia họp mặt tại nhiều nơi khác trong khuôn khổ Lausanne, kể cả gặp trực tuyến qua mạng Internet. Mục tiêu của Lausanne III là gì? Là kêu gọi Hội Thánh toàn cầu làm chứng về Chúa Giê-xu và sự giảng dạy của Ngài trong từng mỗi quốc gia, và trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và tư duy của con người.

Cam kết Cape Town là thành quả của nỗ lực này. Cam kết này có tính lịch sử tiếp nối Công ước LausanneTuyên ngôn Manila. Cam kết Cape Town có hai phần. Phần I là lời tuyên xưng đức tin Tin Lành mà chúng ta được trao truyền qua Kinh Thánh. Phần II là lời kêu gọi dùng việc làm để bày tỏ đức tin.

Phần I được viết như thế nào? Phần I được thảo luận lần đầu tiên trong một cuộc họp mặt của 18 nhà thần học và lãnh đạo Tin Lành từ khắp các châu lục tại Minneapolis, Hoa Kỳ, vào tháng 12 năm 2009. Sau đó, một nhóm nhỏ hơn do tiến sĩ Christopher J. H. Wright, chủ tịch Nhóm Công tác Thần học Lausanne, đứng đầu đã được yêu cầu chuẩn bị tài liệu để trình bày trước Hội đồng Lausanne III.

Phần II được viết như thế nào? Quá trình tiếp nhận ý kiến đóng góp đã bắt đầu từ hơn ba năm trước Hội đồng. Các lãnh đạo vùng của Phong trào Lausanne đã tổ chức các cuộc thảo luận theo từng vùng địa lý quốc tế, qua đó các lãnh đạo Tin Lành từng vùng xác định những thách thức lớn nhất mà Hội Thánh đang đối diện. Qua thảo luận, có sáu vấn đề chính nổi lên. Những vấn đề này (i) đã được dùng để xác định nghị trình của Hội đồng Lausanne III, và (ii) đã được dùng để làm dàn ý viết nên lời mời gọi thực hành đức tin. Quá trình thu thập ý kiến đóng góp cũng diễn ra liên tục trong suốt Hội đồng Lausanne III. Chris Wright và nhóm làm việc đã ghi nhận các ý kiến đóng góp một cách trung thực. Công tác đặc biệt khó khăn do khối lượng công việc rất lớn.

Cam kết Cape Town sẽ đóng vai trò định hướng cho Phong trào Lausanne trong thập kỷ tới. Chúng tôi hy vọng lời mời gọi thực hành đức tin và cầu nguyện mang tính thời sự của Cape Town sẽ thu hút các Hội Thánh, các hội truyền giáo, các viện thần học, các Cơ Đốc nhân đang làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau, và các nhóm sinh viên đại học sẽ nắm lấy lời mời tham gia và góp phần đem Cam kết Cape Town vào cuộc sống.

Thông thường, các bản tuyên xưng đức tin khẳng định những gì Hội Thánh tin. Chúng tôi muốn đi xa hơn thế, và liên kết đức tin với việc làm. Khuôn mẫu là sứ đồ Phao-lô, người luôn dựa vào các giáo huấn thần học để đưa ra các thực hành sống đạo thực tế. Trong thư Cô-lô-se, sự mô tả sâu sắc và tuyệt vời về sự cao trọng của Đấng Christ là khởi nguồn cho sự dạy dỗ thực tế về cách sống đạo sao cho bày tỏ được đức tin của người tín đồ đã đâm rễ và lập nền trong Đấng Christ.

Chúng ta thừa nhận có những vấn đề chính yếu, là những lẽ thật trọng tâm của Phúc Âm mà chúng ta cùng đồng ý, và có những vấn đề thứ yếu, là những vấn đề mà các Cơ Đốc nhân cũng có thể có ý kiến khác nhau, vì họ có những cách hiểu khác nhau về Kinh Thánh. Nhóm làm việc đã cố gắng thể hiện nguyên tắc làm việc của Phong trào Lausanne, là “khác biệt trong giới hạn cho phép.” Phần I định rõ các giới hạn này.

Trong suốt quá trình làm việc, chúng tôi rất vui mừng hợp tác chặt chẽ với Liên hiệp Tin Lành Quốc tế (World Evangelical Alliance – WEA). Các lãnh đạo của WEA hoàn toàn đồng ý với nội dung của Cam kết Cape Town này.

Truyền thống Tin Lành của Phong trào Lausanne chỉ là một chi thể bên trong một thân thể hiệp nhất của Đấng Christ, vui mừng xác nhận môn đệ Chúa Giê-xu có thể thuộc về nhiều truyền thống Cơ Đốc khác. Chúng tôi hoan nghênh các đại diện từ một số Hội Thánh lịch sử thuộc các truyền thống Cơ Đốc khác nhau đã làm quan sát viên tham dự Hội đồng Lausanne III, và chúng tôi tin rằng Cam kết Cape Town có thể là một tài liệu hữu ích cho nhiều Hội Thánh thuộc các truyền thống Cơ Đốc khác. Chúng tôi khiêm nhường chia sẻ tài liệu này.

Chúng tôi hy vọng từ Cam kết Cape Town? Ao ước tài liệu này sẽ được nhắc đến, được thảo luận, và được tham khảo như một lời tuyên bố chung của những người Tin Lành toàn cầu, rằng tài liệu sẽ giúp định hình các mục vụ Tin Lành, rằng nó sẽ là một tài liệu bổ ích cho người Tin Lành bày tỏ mình nơi công cộng, và rằng sẽ có nhiều sáng kiến ​​và quan hệ hợp tác mục vụ mạnh mẽ sẽ được phát xuất từ Cape Town.

Nguyện xin Lời của Đức Chúa Trời soi dẫn chúng ta, xin ân điển của Ðức Chúa Giê-xu Christ, tình yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự thông công của Đức Thánh Linh ở với hết thảy chúng ta.

S Douglas Birdsall, Chủ tịch điều hành

Lindsay Brown, Giám đốc quốc tế

Dẫn nhập

Là những Cơ Đốc nhân thuộc Hội Thánh của Chúa Giê-xu, chúng ta vui mừng khẳng định cam kết của mình đối với Đức Chúa Trời hằng sống và sự cứu rỗi của Ngài qua Chúa Giê-xu. Vì Chúa, chúng ta cam kết với khải tượng và các mục tiêu của Phong trào Lausanne.

Điều này có hai ý nghĩa:

Thứ nhất, chúng ta tiếp tục cam kết với sứ mạng là chứng nhân cho Chúa Giê-xu Christ và sự dạy dỗ của Ngài. Hội nghị Lausanne I (1974) được mở ra để bàn về nhiệm vụ rao truyền Tin Lành cho toàn thế giới. Hội nghị này đã đem lại một số kết quả: (i) Công ước Lausanne; (ii) một ý thức mới về số lượng các sắc dân chưa được nghe Phúc Âm; và (iii) một khám phá mới về bản chất toàn diện của Tin Lành và sứ mạng Cơ Đốc. Hội nghị Lausanne II tại Manila (1989) đã tạo cơ hội phát triển cho hơn 300 quan hệ đối tác chiến lược trong công cuộc chia sẻ Tin Lành toàn cầu, bao gồm nhiều hoạt động hợp tác liên quốc gia.

Thứ hai, chúng ta tiếp tục cam kết với các tài liệu chính của Phong trào Lausanne, bao gồm Công ước Lausanne (1974) và Tuyên ngôn Manila (1989). Những tài liệu này nêu rõ những lẽ thật chính yếu của Tin Lành và áp dụng các lẽ thật này trong các mục vụ thực tế theo những cách có tính phù hợp và thời sự. Chúng ta thừa nhận mình đã chưa làm tốt hết những cam kết đã ghi trong các tài liệu đó. Nhưng chúng ta nỗ lực và cam kết sẽ tiếp tục cố gắng, tìm cách nhận ra mình phải bày tỏ và áp dụng lẽ thật Phúc Âm thể nào trong một thế giới hiện tại luôn biến đổi.

Thực tại đổi thay

Cách chúng ta sống, suy nghĩ và kết nối với nhau đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Dù muốn hay không, quá trình toàn cầu hóa, cuộc cách mạng kỹ thuật số, sự thay đổi cân bằng quyền lực kinh tế và chính trị trên thế giới đã và đang tác động sâu sắc đến chúng ta. Một số điều khiến chúng ta đau buồn và lo lắng: nạn nghèo đói, chiến tranh, xung đột sắc tộc, bệnh tật, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu. Nhưng cũng có một thay đổi lớn lao khiến chúng ta có cớ vui mừng: sự phát triển của Hội Thánh của Chúa Giê-xu trên bình diện toàn cầu.

Hội nghị Lausanne III đã diễn ra ở châu Phi là bằng chứng về điều đó. Vào thời điểm hiện tại, ít nhất hai phần ba số tín đồ Cơ Đốc sống ở các lục địa phương Nam và phương Đông. Thành phần tham dự Hội nghị Cape Town của chúng ta phản ánh sự thay đổi lớn lao nhất bên trong Cơ Đốc giáo của thế kỷ này, kể từ Hội nghị Truyền giáo Edinburgh vào năm 1910. Chúng ta vui mừng vì sự phát triển tuyệt vời của Hội Thánh ở Phi Châu và chúng ta vui mừng vì các anh chị em ở Phi Châu đã đồng ý đứng ra tổ chức Hội nghị này. Đồng thời, chúng ta không thể cùng gặp nhau ở Nam Phi mà không chú ý tới quá khứ đau thương do nạn phân biệt chủng tộc gây ra tại nơi đây. Vì vậy, chúng ta (1) ngợi khen Đức Chúa Trời vì Phúc Âm tiếp tục được truyền rao, và vì Chúa vẫn đang bày tỏ quyền tể trị công bình của Ngài trong dòng lịch sử, đang khi chúng ta vẫn (2) đấu tranh với những tồn tại của sự dữ và bất công. Đó là hai công tác của Hội Thánh khắp nơi.

Chúng ta có một sứ mạng Cơ đốc dành cho thế hệ của mình. Chúng ta phải học hỏi từ sự khôn ngoan và sai lầm, từ cả thành công và thất bại kế thừa từ các thế hệ đi trước. Tôn trọng và cảm thông với quá khứ, chúng ta từ đó xây dựng tương lai trong danh Đức Chúa Trời là Đấng nắm giữ dòng lịch sử.

Thực tại bất biến

Trong một thế giới không ngừng thay đổi ngày càng nhanh, một số điều vẫn không thay đổi. Những lẽ thật không đổi là những điều chúng ta rút ra từ Kinh Thánh, dùng làm nền tảng tham gia sứ mạng Cơ Đốc của mình:

  • Nhân loại đang hư mất. Tình trạng cơ bản của con người vẫn đúng như Kinh Thánh mô tả: chúng ta đứng trước sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời bởi tội lỗi và sự nổi loạn của mình. Nếu không có Đấng Christ, chúng ta không có hy vọng.
  • Phúc Âm chính là tin tức tốt lành. Phúc Âm không phải là một khái niệm cần điều chỉnh cho hợp thời, mà là một câu chuyện cần được kể một cách tươi mới sống động. Đây là câu chuyện không đổi về những gì Đức Chúa Trời đã làm để cứu thế gian, bày tỏ quan trọng nhất là thông qua các sự kiện lịch sử về sự sống, sự chết, sự phục sinh, và sự cai trị của Chúa Giê-xu Christ. Trong Đấng Christ, chúng ta có hy vọng.
  • Hội Thánh vẫn tiếp tục sứ mạng của mình. Sứ mạng của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục khắp nơi, từ nay cho đến tận ngày tận chung của thế gian. Trong ngày đó, những vương quốc trần gian sẽ trở thành vương quốc của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ. Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa dân sự được cứu chuộc trong trời mới đất mới. Cho đến ngày đó, Hội Thánh tiếp tục tham gia vào sứ mạng của Đức Chúa Trời trong tinh thần cấp thiết và vui mừng, đón nhận những cơ hội mới lạ và kỳ thú Chúa ban cho từng thế hệ, kể cả thế hệ chúng ta.

Tình yêu thương và cam kết của chúng ta

Cam kết này được xây dựng trên ngôn ngữ của tình yêu thương. Tình yêu thương là ngôn ngữ của giao ước. Các giao ước Kinh Thánh, cả Cựu ước lẫn Tân ước, đều bày tỏ tình yêu và ân điển cứu chuộc của Chúa dành cho loài người hư mất và cõi tạo vật đã bị tổn hại. Giao ước của Chúa đòi hỏi chúng ta đáp ứng trong tình yêu. Tình yêu thương của chúng ta thể hiện trong sự tin cậy, vâng lời và cam kết nhiệt thành với Chúa là Đấng đã có giao ước với chúng ta. Công ước Lausanne xác định sứ mạng Tin Lành chính là “toàn thể Hội Thánh cùng đem trọn vẹn Phúc Âm đến với toàn thế giới.” Đó là cam kết của chúng ta. Vì vậy, chúng ta làm mới lại giao ước với Chúa bằng cách tái cam kết:

  • Tình yêu thương của chúng ta đối với toàn bộ Phúc Âm, là Tin Lành vinh hiển của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, đến với tất cả mọi chiều kích của cuộc sống và cõi tạo vật đã bị tội lỗi và điều ác làm băng hoại;
  • Tình yêu thương của chúng ta đối với toàn thể Hội Thánh, là dân sự của Đức Chúa Trời, được Đấng Christ cứu chuộc từ mọi quốc gia trên thế gian và thuộc mọi thời đại lịch sử, sẽ chia sẻ sứ mạng của Đức Chúa Trời trong thời đại này và tôn vinh Ngài mãi mãi trong thời sẽ tới;
  • Tình yêu thương của chúng ta đối với toàn thế giới, đã xa lìa khỏi Chúa nhưng vẫn dược Ngài yêu thương, là thế gian mà Đức Chúa Trời yêu thương đến nỗi đã ban Con một của Ngài để cứu rỗi.

Với sự yêu thương có ba mặt như trên, chúng ta tự cam kết trở nên là một Hội Thánh trọn vẹn, để tin cậy, vâng lời, và chia sẻ toàn bộ Phúc Âm, đi khắp thế gian và môn đệ hóa muôn dân cho Đấng Christ.

Phần I – Cho Chúa là Đấng chúng ta yêu: Lời tuyên xưng đức tin từ Cape Town

1. Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước

Sứ mạng của Đức Chúa Trời bắt nguồn từ tình yêu thương. Sứ mạng dân Chúa bắt nguồn từ tình yêu đối với Chúa và mọi sự Chúa yêu. Chúng ta rao truyền Phúc Âm bởi Chúa yêu chúng ta và Ngài cũng yêu thương thế gian. Ân điển của Chúa trỗi hơn mọi điều; chúng ta đáp lại ân điển đó bằng đức tin và sự vâng lời trong tình yêu thương. Chúng ta yêu vì Chúa yêu chúng ta trước, đã sai Con một của Ngài trở thành Đấng Cứu Chuộc tội lỗi chúng ta.[1]

A) Tình yêu thương đối với Chúa và với người lân cận là những điều răn trước nhất và lớn nhất, trỗi hơn mọi lời luật pháp và tiên tri. Tình yêu thương làm trọn luật pháp, cũng được kể trước nhất khi nói về bông trái Thánh Linh. Tình yêu thương là bằng chứng chúng ta được tái sanh, biết Chúa, và có Chúa ở trong chúng ta. Tình yêu thương là điều răn mới của Đấng Christ, Đấng đã nói với các môn đồ rằng chỉ khi họ làm theo điều răn này thì thế gian mới tin họ là người được Chúa sai đi. Tình yêu thương Cơ Đốc bày tỏ cho thế gian về Đức Chúa Trời, là Đấng đã và đang bày tỏ chính Ngài cho thế gian qua Chúa Giê-xu. Phao-lô nhìn thấy và khen ngợi những người mới tin Chúa khi họ có tình yêu thương, đức tin, và hy vọng. Nhưng tình yêu thương trỗi hơn hết, vì tình yêu thương không hề hư mất bao giờ.[2]

B) Tình yêu không yếu đuối, không chạy theo cảm tính. Yêu kính Chúa là kết ước sẽ sống đời trung tín, tận hiến, mạnh mẽ, và thánh khiết. Vì Đức Chúa Trời là tình yêu thương, Ngài hằng hữu và tể trị trong tình yêu, đầy dẫy sự công bình và lòng thương xót. Tình yêu của Chúa che phủ muôn vật Ngài đã dựng nên. Chúng ta được dạy dỗ phải yêu thương theo cách Chúa yêu muôn vật. Đó là ý nghĩa của việc bước đi theo Chúa.[3]

C) Vì vậy, khi xác quyết niềm tin và sự cam kết của mình theo ngôn ngữ của tình yêu thương, chúng ta theo đuổi điều răn lớn mà Kinh Thánh yêu cầu:

1. Yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời với trọn tấm lòng, tâm thần, tâm trí, và sức lực;

2. Yêu mến người lân cận (kể cả người khách lạ và kẻ thù nghịch) như chính mình;

3. Yêu thương nhau như Chúa đã yêu chúng ta trong Đấng Christ, và

4. Yêu thương thế gian với tình yêu của Đấng đã ban Con một của Ngài để thế gian nhờ đó mà được cứu.[4]

D) Tình yêu thương là món quà Đức Chúa Trời đổ đầy vào lòng chúng ta, cũng là điều răn Chúa đòi hỏi chúng ta vâng theo. Trong tình yêu đó, chúng ta phải trở nên giống như Đấng Christ: mạnh mẽ trong đức tin, nhu mì trong sự hạ mình; kiên cường chống lại điều ác, cảm thông với người trong nghịch cảnh; can đảm chịu khổ, trung tín cho đến chết. Tình yêu thương như vậy được kể là theo gương Chúa Giê-xu, là tình yêu có giá trị trong ngày Chúa tái lâm.[5]

Chúng ta xác nhận tình yêu thương trọn vẹn theo Kinh Thánh là dấu hiệu người môn đồ thật của Chúa Giê-xu. Chúng ta mong mình có tình yêu thương đó, như Chúa Giê-xu đã cầu nguyện. Điều đáng buồn là không phải lúc nào chúng ta cũng là nhân chứng tốt cho tình yêu. Một lần nữa, chúng ta cam kết sẽ cố gắng trong cuộc sống, dùng suy nghĩ, lời nói, và hành động bày tỏ tình yêu thương với Chúa, với nhau, và với thế gian.

2. Yêu kính Đức Chúa Trời hằng sống

Chúa mà chúng ta yêu bày tỏ mình trong Kinh Thánh là Đấng duy nhất, hằng sống và hiển trị vạn vật đến muôn đời theo ý định cứu rỗi của riêng Ngài. Trong sự hiệp nhất của Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh, Chúa là Đấng Tạo Hóa, Tể Trị, Phán Xử và Cứu Chuộc thế gian.[6] Chúng ta yêu mến, cảm tạ Chúa vì Ngài dựng nên chúng ta, đặt mình dưới sự quan phòng của Chúa, tin tưởng vào công lý của Chúa, và ngợi khen Chúa vì sự cứu rỗi mà Ngài đã thành toàn cho chúng ta.

A) Yêu Chúa hơn mọi sự. Điều răn của Chúa là chúng ta chỉ yêu mến và thờ phượng Đức Chúa Trời hằng sống. Nhưng giống như dân Y-sơ-ra-ên thời Cựu Ước, chúng ta chạy theo những thần tượng của thế gian.[7] Chúng ta vừa yêu Chúa, vừa ham muốn lợi ích, quyền lực, và thành công theo tiêu chuẩn thế gian, làm tôi Đức Chúa Trời nhưng cũng làm tôi tài thần. Chúng ta không dùng tiêu chuẩn của Kinh Thánh để đánh giá mà mặc nhiên chấp nhận các hệ tư tưởng chính trị và kinh tế đang chi phối đời sống. Dưới áp lực của chủ nghĩa đa nguyên, chúng ta bị cám dỗ rằng không nhất thiết phải hết lòng với một niềm tin. Giống như Y-sơ-ra-ên, chúng ta cần lắng nghe các tiên tri và Chúa Giê-xu, ăn năn từ bỏ thần tượng, trở lại trong tình yêu thương và sự thờ phượng Chúa là Đấng chân thần.

B) Sống cho sự vinh hiển của Chúa. Sứ mạng của chúng ta đồng dạng với điều Chúa muốn, đó là làm cho Đức Chúa Trời, là Đấng có một và thật, được biết đến và tôn cao. Đó là ý Chúa, cũng nên là niềm vui lớn nhất của chúng ta.

Nếu Đức Chúa Trời muốn mọi đầu gối đều cúi xuống và mọi lưỡi đều xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa thì chúng ta cũng ao ước như vậy. Chúng ta nên ‘có lòng sốt sắng’ (như chữ mà đôi khi Kinh Thánh có dùng) vì sự tôn cao danh Chúa – cảm thấy không phải lẽ khi danh Chúa chưa được biết đến, bận lòng khi danh Chúa bị bỏ qua, phẫn nộ khi danh Chúa bị diễn giải sai trật, và luôn có lòng mong mỏi Danh Chúa được tôn cao và quy vinh hiển. Động cơ rao truyền Phúc Âm lớn nhất là không phải tuân theo Đại Mạng Lệnh của Chúa (mặc dù điều đó rất quan trọng), cũng không phải là bày tỏ tình yêu thương đối với tội nhân đang bị xa lánh và hư mất (mặc dù điều đó rất cấp thiết, đặc biệt khi chúng ta nghĩ về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời), mà là lòng sốt sắng nhiệt thành dành cho sự vinh hiển của Chúa Giê-xu Christ… Đứng trước sứ mệnh Cơ Đốc cao trọng đó, những động cơ không xứng đáng phải tàn úa và chết đi.[8]

Điều đáng tiếc lớn nhất cho thế gian là Chúa hằng sống không được tôn vinh. Thuyết vô thần chối bỏ Chúa. Lễ nghi tôn giáo không phản ảnh được hình ảnh Đức Chúa Trời là Đấng chân thần. Con người trong nhiều nền văn hóa hiểu và diễn giải Chúa Giê-xu không chính xác. Thêm vào đó, sự thiếu cam kết, giả hình, pha trộn tình yêu Chúa và tình yêu thế gian của chính các Cơ Đốc nhân đã làm phai mờ hình ảnh mà Kinh Thánh đã khắc họa về Chúa.

Yêu Chúa giữa một thế gian chối bỏ và hiểu sai về Chúa đòi hỏi chúng ta phải dũng cảm và khiêm nhường làm nhân chứng cho Chúa; mạnh mẽ và ân cần trình bày lẽ thật Tin Lành của Chúa Giê-xu; cầu nguyện và tin cậy vào công tác thuyết phục lòng người của Thánh Linh. Chúng ta cam kết làm chứng cho Chúa, vì nếu chúng ta yêu Chúa, chúng ta mong Danh và Lời Chúa được tôn cao trên hết mọi điều.[9]

3. Yêu kính Chúa Cha

Nhờ Chúa Giê-xu, là con độc sanh của Đức Chúa Trời – là đường đi, chân lý, và sự sống – chúng ta biết và yêu kính Đức Chúa Trời là Cha. Nhờ Thánh Linh làm chứng trong tâm thần mình rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể gọi Chúa là “Cha,” như Chúa Giê-xu đã gọi, và chúng ta cầu nguyện như Chúa Giê-xu dạy, “Lạy Cha chúng con ở trên trời…” Khi chúng ta yêu kính và vâng lời Chúa Giê-xu, chúng ta đón nhận tình yêu của Chúa Cha, và Chúa Cha và Chúa Con đồng ở trong chúng ta, ban cho và đón nhận tình yêu thương cùng một lúc.[10] Mối quan hệ này có nền tảng Kinh Thánh sâu sắc.

A) Chúng ta yêu Chúa là Cha thiên thượng của dân sự. Trong Cựu Ước, dân Y-sơ-ra-ên biết Chúa là Cha, là Đấng dựng nên họ, nuôi dưỡng, dạy dỗ, gọi họ đến sự vâng lời, chờ đợi sự kính mến của họ, tha thứ dồi dào và bền lòng yêu thương.[11] Tất cả mọi điều này cũng đúng với chúng ta là dân sự của Chúa thuộc về Đấng Christ trong mối quan hệ với Chúa Cha.

B) Chúng ta yêu Chúa là Cha, Đấng đã yêu thương thế gian đến nỗi ban con độc sanh của Ngài để cứu chúng ta. Tình yêu thương đó quá lớn lao, nhờ đó chúng ta có thể được gọi là con Đức Chúa Trời. Thật không gì so sánh được với tình yêu của Chúa đã không tiếc chính con độc sanh của mình cho chúng ta. Tình yêu của Đức Chúa Cha được bày tỏ qua sự yêu thương từ bỏ mình của Đức Chúa Con. Đó là sự hoàn toàn tự nguyện trong công cuộc cứu chuộc tội nhân mà Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đã hoàn tất tại thập tự giá trong Thánh Linh đời đời. Cha yêu thế gian và ban con một của Ngài; ‘Con Đức Chúa Trời yêu thương và phó chính mình Ngài vì cớ tôi.’ Sự hiệp một của Cha và Con, được chính Chúa Giê-xu xác nhận, và cũng là lời chào được lặp lại nhiều nhất của Phao-lô: ‘nguyện xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, là Cha, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta, là Đấng phó mình vì tội lỗi chúng ta, hầu cho cứu chúng ta khỏi đời ác nầy, y theo ý muốn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta, nguyện Ngài được vinh hiển đời đời vô cùng! A-men.’[12]

C) Chúng ta kính yêu Chúa Cha qua việc sống theo Chúa và tin cậy sự quan phòng của Ngài. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giê-xu lặp lại nhiều lần rằng Cha thiên thượng là khuôn mẫu và trọng tâm hành động của chúng ta. Chúng ta làm cho người khác hòa thuận, vì là con của Đức Chúa Trời. Chúng ta làm việc lành vì sự vinh hiển sẽ thuộc về Chúa Cha trên cao. Chúng ta yêu kẻ thù nghịch vì điều đó phản ảnh tình yêu của Chúa Cha. Chúng ta tập ban cho, cầu nguyện, và kiêng ăn cách riêng tư, chỉ Cha biết mà thôi. Chúng ta tha thứ, vì đã được Cha tha thứ. Chúng ta không lo lắng, nhưng tin cậy sự quan phòng của Chúa Cha. Với cách sống bắt nguồn từ bản tính Cơ Đốc, chúng ta làm theo ý muốn của Cha thiên thượng, trong vương quốc của Đức Chúa Trời.[13]

Chúng ta nhiều lần quên đi lẽ thật Đức Chúa Trời là Cha, đánh mất sự phong phú trong mối quan hệ với Ngài. Chúng ta cam kết đến cùng Đức Chúa Cha qua Chúa Giê-xu: đón nhận và đáp ứng tình yêu của Cha; sống vâng lời theo sự dạy dỗ của Ngài; bày tỏ bản tính của Ngài qua thái độ và cách sống; tin cậy sự chu cấp của Cha trên mọi nẻo đường Ngài dẫn chúng ta đi.

4. Yêu kính Chúa Con

Đức Chúa Trời phán rằng Y-sơ-ra-ên phải hết lòng yêu mến và phụng sự một mình Ngài mà thôi. Cũng một lẽ đó, kính yêu Chúa Giê-xu có nghĩa là chúng ta kiên định xác quyết chỉ có Ngài là Đấng Cứu Chuộc, là Chủ, là Chúa. Kinh Thánh dạy Chúa Giê-xu có quyền chủ tể trên mọi sự như Đức Chúa Trời. Đấng Christ là Đấng tạo hóa, là Đấng nắm dòng lịch sử, là Đấng phán xét mọi dân, là Đấng cứu chuộc tất cả những ai kêu cầu.[14] Ngài cũng là Đức Chúa Trời trong sự bình đẳng và hiệp nhất của Cha, Con, và Thánh Linh. Cũng như Đức Chúa Trời gọi Y-sơ-ra-ên đến với Ngài trong đức tin dựa trên sự giao ước, vâng lời, và làm chứng nhân, chúng ta cũng xác quyết tình yêu của mình với Chúa Giê-xu qua việc tin cậy, vâng lời, và bày tỏ Ngài cho người khác.

A) Chúng ta tin cậy Đấng Christ. Chúng ta tin lời chứng của các sách Phúc Âm rằng Chúa Giê-xu người Na-xa-rét là đấng Mê-si, được Đức Chúa Trời xức dầu và sai đến để làm thành sứ mạng của Y-sơ-ra-ên, đem phước hạnh cứu rỗi đến với mọi dân như Chúa đã hứa cùng Áp-ra-ham.

1. Trong Chúa Giê-xu, Đấng được đầu thai bởi Thánh Linh và sanh bởi nữ đồng trinh Ma-ri, Đức Chúa Trời mặc lấy thân xác loài người và ở giữa chúng ta, vừa hoàn toàn là người, vừa hoàn toàn là Đức Chúa Trời.

2. Trong cuộc sống, Chúa Giê-xu sống đời trọn vẹn trong sự trung tín và vâng phục Đức Chúa Trời. Ngài rao giảng và dạy dỗ về nước Đức Chúa Trời, và là tấm gương cho các môn đồ về cách sống dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời.

3. Trong chức vụ và việc thi hành các phép lạ, Chúa Giê-xu công bố và cho thấy sự chiến thắng của nước Trời trên điều ác và các quyền lực tối tăm.

4. Trong sự chết trên thập giá, Chúa Giê-xu mang lấy tội lỗi của chúng ta, chịu hết cái giá của tội lỗi, nhận sự khổ hình và sỉ nhục, đắc thắng sự chết và quyền lực tối tăm, hoàn thành sự cứu rỗi và khiến muôn vật được phục hòa cùng Đức Chúa Trời.

5. Trong sự sống lại của thân thể, Chúa Giê-xu được tôn cao trong Đức Chúa Trời, hoàn tất và bày tỏ chiến thắng trọn vẹn của thập giá, trở nên trái đầu mùa trong sự cứu rỗi dành cho nhân loại và sự phục hồi của muôn vật.

6. Khi Ngài thăng thiên, Chúa Giê-xu là Chúa của cả lịch sử và cõi vũ trụ này.

7. Khi Ngài trở lại, Chúa Giê-xu là Đấng phán xét, hủy diệt Sa-tan, tội lỗi, và sự chết, và thiết lập sự cai trị của Đức Chúa Trời.

B) Chúng ta vâng lời Đấng Christ. Chúa Giê-xu gọi chúng ta đến sự môn đệ hóa, vác lấy thập giá mình và đi theo Ngài trên con đường từ bỏ mình, có tinh thần phục vụ và vâng phục. “Nếu ai yêu mến ta thì giữ các điều răn ta.” “Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” Chúng ta được gọi để sống như Đấng Christ đã sống và yêu như Đấng Christ đã yêu. Xưng nhận Chúa mà không làm theo các điều răn của Ngài là một sự dại dột nguy hiểm. Chúa Giê-xu đã từng báo trước rằng có những kẻ dùng danh Ngài để làm các dấu kỳ phép lạ nhưng chính Ngài sẽ không nhận lấy họ và kể họ vào hàng kẻ dữ.[15] Chúng ta cẩn thận về lời Ngài đã phán bảo, bởi không ai chắc rằng mình được miễn trừ khỏi mối nguy hiểm này.

C) Chúng ta công bố Đấng Christ. Chỉ trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài một cách trọn vẹn và hoàn toàn. Chỉ trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời hoàn thành sự cứu chuộc cho thế gian. Chúng ta bởi đó quỳ dưới bệ chân Chúa Giê-xu người Na-xa-rét và thưa với Ngài như Phi-e-rơ đã tuyên xưng, “Ngài là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống,” và như Thô-ma đã nói, “Lạy Chúa và Đức Chúa Trời tôi.” Dầu không thấy Ngài, chúng ta yêu mến Ngài. Chúng ta vui mừng trong sự trông cậy đang khi chờ đợi ngày Chúa trở lại, là lúc chúng ta sẽ thấy Ngài. Từ nay cho đến lúc đó, chúng ta đồng nói cùng Phi-e-rơ và Giăng rằng “chẳng có sự cứu rỗi trong một đấng nào khác, vì không có một danh nào khác ở dưới trời mà nhờ đó chúng ta được cứu.”[16]

Chúng ta cam kết làm chứng nhân cho Chúa Giê-xu Christ và sự giảng dạy của Ngài cho đến tận cùng trái đất, biết rằng sự làm chứng đó chỉ có thể làm được khi chúng ta sống trong sự vâng lời Ngài.

5. Yêu kính Thánh Linh

Chúng ta yêu mến Thánh Linh trong sự kết hiệp của Ba ngôi Thiên Chúa, cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Ngài là Thánh Linh được Chúa Cha và Chúa Con gởi đến để ban sự sống và năng quyền cho Hội Thánh, là Hội được sai đi cho Chúa. Chúng ta yêu thương và cầu nguyện cho sự hiện diện của Đức Thánh Linh, vì không có lời chứng của Đức Thánh Linh thì sự làm chứng của chúng ta là vô ích. Không có sự hành động của Đức Thánh Linh, sự rao giảng sẽ không có kết quả. Không có ân tứ, sự hướng dẫn, và quyền năng của Đức Thánh Linh, sứ vụ Cơ Đốc sẽ chỉ là nỗ lực của loài người. Không có bông trái Thánh Linh, đời sống bất toàn của chúng ta không thể bày tỏ được vẻ đẹp của Phúc Âm.

A) Trong Cựu Ước chúng ta thấy Đức Thánh Linh hành động trong công cuộc sáng tạo, trong sự giải phóng áp bức và thi hành công lý, trong sự đổ đầy và ban năng lực cho dân sự trong mọi sự hầu việc Chúa. Các tiên tri, bởi Thần Chúa, trông đợi vị Vua và người Tôi tớ sẽ đến, là Đấng đầy dẫy Thánh Linh ở con người bề trong lẫn việc làm bên ngoài. Các tiên tri cũng thấy về một thời kỳ mà Thần Chúa tuôn đổ trên cả dân sự Chúa, không kể già trẻ, bất kể nam nữ, đem lại sự sống mới, sự vâng phục mới, và các ân tứ mà các đấng tiên tri từng nói đến.[17]

B) Vào lễ Ngũ tuần, Đức Chúa Trời tuôn đổ Thánh Linh của Ngài như đã hứa qua lời các tiên tri và Chúa Giê-xu. Đức Thánh Linh khiến tín đồ nên thánh, sanh ra bông trái tốt trên đời sống, biểu hiện đầu tiên luôn là tình yêu thương. Đức Thánh Linh đổ đầy Hội Thánh với các ân tứ, mà chúng ta “nôn nả tìm kiếm,” là điều không thể thiếu được trong sự hầu việc Chúa. Đức Thánh Linh ban năng lực chia sẻ Phúc Âm và thực thi những sứ vụ khác nhau. Đức Thánh Linh giúp chúng ta công bố và sống Phúc Âm, nhận diện lẽ thật, và cầu nguyện một cách hiệu quả và đắc thắng trên quyền lực tối tăm. Đức Thánh Linh truyền cảm hứng và ở cùng sự thờ phượng của chúng ta. Ngài thêm sức và an ủi các môn đồ khi gặp hoạn nạn bắt bớ vì làm chứng nhân cho Đấng Christ.[18]

C) Sự chia sẻ Phúc Âm của chúng ta, vì thế, là vô nghĩa và không có kết quả nếu không có sự hiện diện, dẫn dắt, và ban năng lực của Đức Thánh Linh. Điều này đúng với mọi khía cạnh chia sẻ Phúc Âm: truyền giảng, làm chứng, môn đệ hóa, lập lại hòa bình, thi hành công tác xã hội, nâng cao đạo đức xã hội, bảo vệ môi trường sống, đắc thắng sự dữ, trừ quỉ, chữa lành kẻ đau yếu, chịu khổ và nhịn nhục khi chịu bắt bớ. Mọi điều chúng ta làm trong danh Đấng Christ phải được hướng dẫn và ban năng quyền bởi Đức Thánh Linh. Tân Ước nói điều này rất rõ ràng trong đời sống của Hội Thánh đầu tiên và trong sự giảng dạy của các sứ đồ. Nó cũng được biểu hiện ngày nay qua bông trái và sự phát triển của các Hội Thánh khi những người theo Chúa Giê-xu hành động một cách tự tin trong năng quyền Thánh Linh, luôn nương cậy và trông đợi Ngài.

Không có Phúc Âm nào là thật và trọn vẹn, cũng không có sứ vụ nào chân thật nếu ở bên ngoài thân vị, công tác, và năng quyền của Đức Thánh Linh. Chúng ta cầu nguyện cho một sự tỉnh thức lớn lao hơn về lẽ thật này, mong cho sự kinh nghiệm lẽ thật này sẽ trở nên thực hữu trong vòng thân thể Đấng Christ khắp hoàn cầu. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thức rằng có nhiều sự giả dạng dưới danh nghĩa Đức Thánh Linh, có nhiều hiện tượng siêu nhiên được thực hành và ca ngợi nhưng không đúng là các ân tứ Thánh Linh như được dạy trong Tân Ước. Nhu cầu lớn hiện nay là khả năng nhận biết lẽ thật sâu sắc, cảnh báo các ảo tưởng, phơi bày những kẻ giả hình kiêu ngạo đã lạm dụng các hiện tượng siêu nhiên để theo đuổi quyền lợi cá nhân. Một nhu cầu lớn hơn nữa là giữ vững sự giảng dạy đúng với Thánh Kinh, thấm nhuần trong sự cầu nguyện khiêm nhường, nhờ đó trang bị cho tín đồ sự hiểu biết và vui mừng về lẽ thật Phúc Âm để họ có thể nhận diện và từ chối các sự giảng dạy sai trật.

6. Yêu mến Lời Chúa

Chúng ta yêu Lời Chúa trong Kinh Thánh, gồm Cựu Ước và Tân Ước, như tác giả Thi-thiên đã vui mừng nói, “Tôi yêu quí điều răn Chúa hơn vàng… Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao!” Chúng ta nhận Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, được thần cảm bởi Thánh Linh, nhờ các tác giả loài người nói và viết ra. Chúng ta thừa nhận Kinh Thánh có thẩm quyền tuyệt đối về đức tin và nếp sống Cơ Đốc. Chúng ta làm chứng rằng quyền năng của Lời Chúa làm trọn mục đích cứu rỗi của Ngài. Chúng ta xác nhận Kinh Thánh là lời tối hậu của Đức Chúa Trời, không có sự mặc khải nào lớn hơn lời đó, nhưng chúng ta cũng vui mừng bởi Đức Thánh Linh soi sáng tâm trí cho dân sự Chúa để Kinh Thánh tiếp tục bày tỏ lẽ thật của Chúa theo những cách thức tươi mới cho các dân tộc thuộc mọi nền văn hóa.[19]

A) Đấng mà Kinh Thánh bày tỏ. Chúng ta yêu Kinh Thánh như người vợ yêu những lá thư của chồng mình, không phải vì chất liệu giấy, nhưng vì người đang nói chuyện cùng mình qua những lá thư đó. Kinh Thánh đem đến mặc khải của Đức Chúa Trời về tính cách, bản chất, mục đích, và hành động của Ngài. Đó là lời chứng quan trọng nhất về Chúa Giê-xu. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta gặp gỡ Chúa Giê-xu trong Thánh Linh với niềm vui lớn. Sự yêu thương dành cho Kinh Thánh bày tỏ tình yêu đối với Đức Chúa Trời.

B) Câu chuyện mà Kinh Thánh kể. Kinh Thánh kể về sự khởi đầu của muôn vật, sự sa ngã, sự cứu chuộc trong lịch sử, và trời mới đất mới sẽ đến. Chuyện kể này cung cấp một thế giới quan chặt chẽ theo Kinh Thánh và định hướng thần học của chúng ta. Tại trung tâm của câu chuyện là những sự kiện cứu chuộc có liên quan đến thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giê-xu, là tâm điểm của Phúc Âm. Câu chuyện này (trong cả Tân và Cựu Ước) cho chúng ta biết mình là ai, sống để làm gì, và sẽ đi về đâu. Câu chuyện về sứ mạng của Đức Chúa Trời khiến chúng ta biết rõ mình, dẫn dắt chúng ta trong sứ mạng Cơ Đốc, và đảm bảo rằng kết quả cuối cùng của công việc nằm trong tay Chúa. Câu chuyện Kinh Thánh tạo nên ký ức lịch sử và hy vọng của dân sự Đức Chúa Trời, định hình nội dung Phúc Âm được rao giảng từ đời này sang đời khác. Chúng ta phải làm cho Kinh Thánh được biết đến bằng mọi cách có thể, vì sứ điệp Kinh Thánh dành cho tất cả mọi người trên đất. Vì thế chúng ta cam kết vào công tác dịch thuật, phân phối, và giảng dạy Kinh Thánh trong mọi văn hóa, mọi ngôn ngữ, kể cả những ngôn ngữ thiên về khẩu ngữ hoặc không có chữ viết.

C) Lẽ thật Kinh Thánh giảng dạy. Cả Kinh Thánh giảng dạy toàn bộ những sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, là những lẽ thật mà Chúa muốn chúng ta biết. Chúng ta thừa nhận sự dạy dỗ này là thật và đáng tin cậy trong trong tất cả mọi điều mà Kinh Thánh khẳng định, vì đó là lời của Đức Chúa Trời, Đấng không hề nói dối và cũng không sai lầm. Kinh Thánh là lời rõ ràng và đầy đủ trong việc bày tỏ con đường của sự cứu rỗi, là nền tảng để tìm hiểu mọi khía cạnh của lẽ thật trong Đức Chúa Trời.

Tuy nhiên chúng ta sống trong một thế giới đầy sự lừa dối và chối bỏ lẽ thật. Nhiều nền văn hóa cho rằng mọi điều chỉ là tương đối và không chấp nhận rằng chân lý tuyệt đối có thể tồn tại hoặc có thể biết được. Nếu chúng ta yêu Kinh Thánh, chúng ta phải đứng lên để bảo vệ những lời mà Kinh Thánh công bố là lẽ thật. Chúng ta phải tìm những phương pháp mới để có thể bày tỏ thẩm quyền của Kinh Thánh trong mọi nền văn hóa. Chúng ta cam kết một lần nữa sẽ cố gắng để bảo vệ lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã mặc khải, xem đó là một phần công việc được làm ra bởi sự yêu mến Lời Chúa.

D) Đời sống mà Kinh Thánh yêu cầu. ‘Lời ở trên môi miệng và trong lòng để người có thể làm theo.’ Chúa Giê-xu và Gia-cơ kêu gọi chúng ta trở nên người làm theo lời Kinh Thánh, chớ lấy nghe làm đủ.[20] Kinh Thánh mô tả những phẩm chất của người tin Chúa và của cộng đồng Cơ Đốc. Từ Áp-ra-ham, Môi-se, các tác giả Thi-thiên, các tiên tri và các sách khôn ngoan Y-sơ-ra-ên cho đến Chúa Giê-xu và các sứ đồ, chúng ta học được về cách sống theo Kinh Thánh phải làm sự công bình, có lòng thương xót, khiêm nhường, chánh trực, yêu thích lẽ thật, đời sống tình dục trong sạch, rộng rãi, tử tế, tiết độ, hiếu khách, giúp người khác hòa giải, không lấy điều ác báo trả điều ác, làm việc lành, có lòng tha thứ, vui mừng, thoả lòng, và yêu thương – mọi điều này phải hiệp lại trong đời sống thờ phượng, ngợi khen, và trung tín trong Chúa.

Chúng ta thừa nhận rằng nói yêu Kinh Thánh dễ hơn là yêu những sự dạy dỗ của Kinh Thánh, đòi hỏi chúng ta theo đuổi một cuộc sống có sự trả giá cho sự vâng phục Chúa trong Đấng Christ. Nhưng “không có lời chứng nào tốt và hùng hồn hơn là một cuộc sống được thay đổi, và không có điều gì khiến Phúc Âm trở nên bị xem thường nhiều hơn là một đời sống mà lời nói và việc làm không đi đôi với nhau. Chúng ta được yêu cầu phải sống cho xứng đáng với Phúc Âm của Đấng Christ, dùng đời sống đó để ‘tô điểm’ và bày tỏ vẻ đẹp của Phúc Âm qua nếp sống của mình.”[21] Vì Phúc Âm của Đấng Christ, chúng ta tái cam kết chứng tỏ tình yêu dành cho Lời Chúa qua sự tin và làm theo. Không có một sự rao giảng nào có thể nằm bên ngoài một đời sống theo những gì Kinh Thánh yêu cầu.

7. Yêu mến thế gian mà Chúa yêu

Chúng ta chia sẻ tình thương Chúa dành cho những gì Ngài đã dựng nên, vui mừng trong sự chu cấp và công bình của Ngài, công bố tin tức tốt lành cho vạn vật và mọi dân tộc, trông chờ ngày khắp đất sẽ đầy dẫy sự hiểu biết về vinh quang của Chúa như nước bao phủ bề mặt biển cả.[22]

A) Chúng ta yêu mến trái đất mà Chúa đã tạo dựng nên. Tình yêu này không phải chỉ là cảm xúc dành cho cảnh đẹp tự nhiên (là điều Kinh Thánh không đòi hỏi), cũng không phải là sự sùng bái cảnh vật (là điều Kinh Thánh cấm). Nó là một sự bày tỏ tự nhiên phát sinh từ tình yêu của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời bằng cách chăm sóc những gì thuộc về Chúa. ‘Đất và muôn vật ở trong đó đều thuộc về Chúa.’ Cả trái đất thuộc về Chúa mà chúng ta yêu mến và vâng lời. Chúng ta chăm sóc trái đất, đơn giản chỉ vì nó thuộc về Đấng mà chúng ta gọi là Chúa.[23]

Trái đất được tạo dựng, nâng đỡ, và cứu chuộc trong Đấng Christ.[24] Chúng ta không thể xưng nhận mình yêu Chúa mà lại tàn phá trái đất, là vật thuộc về Chúa Giê-xu là Đấng có quyền lợi hợp pháp do đã tạo nên, chuộc về, và thừa hưởng. Chúng ta chăm sóc trái đất và có trách nhiệm với các nguồn tài nguyên dồi dào, không phải vì theo những lập luận của xã hội xung quanh, nhưng vì Chúa. Khi Chúa Giê-xu là Chúa trên cả trái đất, chúng ta không thể tách biệt mối quan hệ giữa chúng ta với Ngài ra khỏi cách chúng ta đối xử với trái đất. Vì công bố Phúc Âm rằng ‘Giê-xu là Chúa’ có bao hàm ý nghĩa Ngài là Chúa của cả trái đất. Chúa Giê-xu là Chúa trên cả muôn vật. Chăm sóc trái đất vì thế cũng bày tỏ khía cạnh Phúc Âm nói về sự tể trị của Chúa Giê-xu trên mọi vật.

Sự yêu thương dành cho những gì Chúa đã tạo dựng nên đòi hỏi chúng ta phải ăn năn về những sự phá hủy, lãng phí, làm ô nhiễm những nguồn tài nguyên của đất, và đã có sự thông đồng đề cao chủ nghĩa tiêu thụ độc hại là hư hoại trái đất. Thay vào đó, chúng ta cần cam kết có trách nhiệm về môi trường sống, và chia sẻ một cách khẩn cấp sứ điệp có tính tiên tri này. Chúng ta hỗ trợ các Cơ Đốc nhân có sự kêu gọi từ Chúa để làm công tác vận động và hành động bảo vệ môi trường, cũng như hỗ trợ tất cả những người cam kết hoàn thành mạng lệnh chu cấp an sinh xã hội và những nhu cầu cần thiết của con người bằng cách quản trị có trách nhiệm đối với những nguồn tài nguyên được giao phó. Kinh Thánh công bố rằng sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho muôn vật. Một sứ mạng trọn vẹn phải bao gồm sự nhận diện chính xác, công bố, và sống theo những lẽ thật Kinh Thánh mà Phúc Âm, là tin tức tốt lành đến từ Đức Chúa Trời, thông qua thập giá và sự sống lại của Chúa Giê-xu, dành cho mỗi cá nhân, cho toàn xã hội, cho cả muôn loài vạn vật. Cả ba lĩnh vực này đều bị tổn thương và chịu đau khổ vì tội lỗi; cả ba đều nằm trong tình yêu thương và sứ mạng cứu chuộc của Đức Chúa Trời; dân sự Chúa có sứ mạng rao truyền Phúc Âm cách toàn diện về cả ba lĩnh vực này.

B) Chúng ta yêu mến các dân tộc và các nền văn hóa của thế giới. ‘Từ một người, Chúa dựng nên các dân tộc, và họ sống đầy dẫy khắp đất.’ Sự đa dạng về sắc tộc là một món quà của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo, và sẽ được giữ gìn lại trong thế giới tương lai, khi chúng ta thóat khỏi sự chia rẽ và tranh cạnh của mình. Tình yêu mến của chúng ta dành cho các dân tộc phản ảnh lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Ngài chúc phước cho các dân tộc và sứ mạng của Ngài là tạo dựng một tuyển dân từ mọi dân, mọi nước, mọi thứ tiếng khác nhau. Chúng ta yêu những gì Chúa đã chọn để ban phước, trong đó bao gồm mọi nền văn hóa khác nhau. Trong suốt lịch sử truyền giáo, dù có những sai lầm, sự truyền giáo Cơ Đốc luôn có khía cạnh giữ gìn và bảo vệ văn hóa và ngôn ngữ bản địa. Tuy nhiên tình yêu đến từ Đức Chúa Trời cũng phải có sự nhạy bén phân biệt tốt xấu, vì văn hóa không chỉ bao gồm những điều tốt đẹp bày tỏ hình ảnh của Chúa trong đời sống con người, nhưng cũng bao gồm cả những dấu ấn tiêu cực của điều ác và tội lỗi. Chúng ta mong muốn nhìn thấy mọi nền văn hóa có cùng các giá trị tốt đẹp nhất của Phúc Âm, và Phúc Âm cũng trở nên một thuộc tính của văn hóa, làm nên sự cứu chuộc từ bên trong để các nền văn hóa có thể tôn cao Chúa và bày tỏ sự đầy trọn của Đấng Christ. Chúng ta mong muốn những sự giàu có, vinh quang, rực rỡ của các nền văn hóa được mang vào trong thành thánh của Đức Chúa Trời – được cứu chuộc và làm sạch khỏi sự tội, làm giàu cho trời mới đất mới trong tương lai.[25]

Tình yêu cho mọi dân tộc vì thế đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ tội ác phân biệt chủng tộc, và đối xử với mọi dân tộc và văn hóa với sự tôn trọng trên cơ sở mọi dân tộc và văn hóa đều có giá trị trước Chúa trong sự sáng tạo và cứu chuộc của Ngài.[26]

Tình yêu đòi hỏi chúng ta rao truyền Phúc Âm cho mọi dân tộc và mọi nền văn hóa khắp nơi. Không dân tộc nào, dầu là người Do Thái hay người ngoại bang, là đối tượng nằm ngoài đại mạng lệnh rao truyền Phúc Âm. Sự truyền giáo xuất phát từ những tấm lòng được đổ đầy bởi tình yêu mến Chúa dành cho những người chưa biết về Ngài. Chúng ta xưng nhận với sự ngượng ngùng rằng vẫn có nhiều dân tộc chưa biết đến sứ điệp tình yêu của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu. Chúng ta tái cam kết điều đã thôi thúc dẫn đến Phong trào Lausanne này: cần dùng mọi phương cách có thể để đưa Phúc Âm đến với mọi dân tộc.

C) Chúng ta yêu mến thế gian đang chịu nghèo đói và đau khổ. Kinh Thánh kể rằng Đức Chúa Trời yêu những gì Ngài đã tạo dựng nên, bênh vực duyên cớ của những kẻ bị áp bức, thương người khách lạ, cho kẻ đói được no lòng, làm cho vững vàng những kẻ mồ côi và goá bụa.[27] Kinh Thánh bày tỏ Đức Chúa Trời có ý muốn rằng nhiều người sẽ có cam kết tiến hành những công tác này. Chúa đặc biệt đòi hỏi những lãnh đạo về chính trị và người có quyền xét xử trong xã hội phải có trách nhiệm trước mặt Ngài về những công tác này,[28] nhưng Ngài cũng đòi hỏi dân sự của Ngài – thông qua luật pháp và các tiên tri, Thi thiên và lời khôn ngoan, qua Chúa Giê-xu và Phao-lô, qua Gia-cơ và Giăng – rằng dân sự phải bày tỏ tình yêu và sự công bình của Chúa thông qua việc đem tình yêu và sự công bình đến cho những người thiếu thốn.[29]

Tình yêu dành cho người nghèo thiếu đòi khỏi chúng ta không chỉ có lòng thương xót và làm những công việc bày tỏ sự chia sẻ với người nghèo, nhưng cũng phải theo đuổi sự công bình bằng cách phơi bày và lên án những điều áp bức và bóc lột người nghèo. ‘Chúng ta không sợ hãi khi lên án tội ác và sự không công bình ở mọi nơi.’[30] Chúng ta cũng hổ thẹn nhận ra mình thất bại trong việc làm sự công bình, đã không bày tỏ được tình yêu và những đặc tính của Đức Chúa Trời, và cũng không làm theo đúng ý muốn của Ngài. Chúng ta muốn làm mới lại sự cam kết làm điều công bình thông qua sự đoàn kết và biện hộ cho những người bị áp bức và gạt bỏ ra bên lề xã hội. Chúng ta nhận thấy rõ ở đây cũng có sự tranh chiến với điều ác trong chiến trường thuộc linh, và sự đắc thắng chỉ có thể đạt được nhờ thập giá và sự sống lại của Đấng Christ trong quyền năng của Thánh Linh nhờ lời cầu nguyện không ngừng nghỉ của các thánh đồ.

D) Chúng ta yêu kẻ lân cận như chính mình. Chúa Giê-xu gọi các môn đồ tuân theo điều răn này như là điều răn lớn thứ hai trong các điều luật, nhưng Ngài cũng mở rộng nó ra (trong cùng một đoạn Kinh Thánh), từ “yêu kẻ lân cận như chính mình” đến “yêu kẻ thù nghịch mình.”[31]

Tình yêu dành cho người lân cận đòi hỏi chúng ta đối đãi với mọi người theo sự giảng dạy của Phúc Âm, đó là vâng theo lời dạy của Đấng Christ và noi theo tấm gương của Ngài. Tình yêu dành cho kẻ lân cận khiến chúng ta nhận lấy những người không cùng niềm tin, và cũng mở rộng mình với những người đã ganh ghét, nói xấu, bắt bớ, giết hại các Cơ Đốc nhân. Chúa Giê-xu dạy phải dùng sự thật đối lại cùng sự dối trá, dùng điều thiện, lòng thương xót và tha thứ đối cùng kẻ làm điều ác, dùng sự hy sinh để đối cùng bạo lực và kẻ giết người. Chỉ như thế chúng ta mới có thể đưa người khác đến với Ngài và bẻ gãy gông xiềng của điều ác. Chúng ta nhấn mạnh bạo lực không phải là cách dùng để rao giảng Phúc Âm, và không thể dùng điều ác để đáp trả lại người đã làm điều ác. Những hành động không vâng lời đó không phù hợp với tấm gương và sự giảng dạy của Đấng Christ trong Tân Ước.[32] Cùng một lúc, bổn phận yêu thương những người lân cận đang đau khổ đòi hỏi chúng ta phải tìm công lý cho họ thông qua việc yêu cầu phải có sự can thiệp và giúp đỡ từ những nhà cầm quyền, là chức dịch do Chúa dựng nên để trừng phạt kẻ làm điều ác.[33]

E) Cũng có một thế gian mà chúng ta không hề yêu. Thế giới tốt lành mà Chúa đã dựng nên đã trở thành thế gian đầy sự phản nghịch chống lại cùng Ngài. Chúng ta không yêu thế gian của những ham muốn tội lỗi, tham lam, và kiêu ngạo. Chúng ta đau buồn xưng nhận chính những đặc tính này của thế gian cũng thường làm biến dạng hình ảnh Cơ Đốc và ngăn trở người khác tiếp nhận Phúc Âm.[34]

Chúng ta cam kết làm mới chính mình, không phải để yêu thế gian và những sự đam mê chóng tàn của nó, nhưng để yêu thế gian như Đức Chúa Trời yêu thế gian. Vì thế chúng ta yêu thế gian trong sự trông cậy sự cứu chuộc trong Đấng Christ và sự làm nên mới muôn vật và mọi nền văn hóa sẽ đến. Sẽ có một dân Chúa được đem về từ mọi dân trên khắp đất, và sẽ có ngày mà mọi sự huỷ diệt, nghèo đói, và thù địch sẽ chấm dứt.

8. Yêu mến Phúc Âm

Là những môn đệ của Chúa Giê-xu, chúng ta là một dân sự thuộc về Phúc Âm. Bản chất chính yếu của chúng ta là tấm lòng dành cho Tin Lành cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Christ. Chúng ta kết hiệp với nhau trong sự trải nghiệm về ân điển của Chúa trong Phúc Âm, và cả trong niềm ao ước khiến cho Phúc Âm về ân điển đó được rao truyền khắp nơi bằng mọi phương cách có thể.

A) Chúng ta yêu mến tin lành giữa một thế giới chỉ toàn tin dữ. Phúc Âm chỉ ra hậu quả kinh khủng của tội lỗi, sự sa ngã, và nhu cầu cần được cứu rỗi của loài người. Con ngươi đã chống nghịch, chối bỏ, không vâng phục Đức Chúa Trời. Trong tội lỗi, chúng ta thù nghịch với Đức Chúa Trời, với người khác, và với cả cõi thiên nhiên. Tội lỗi đáng bị trừng phạt. Hễ ai từ chối không ăn năn và ‘không đón nhận tin tức tốt lành của Chúa Giê-xu sẽ bị hư mất, không có sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đời sống.’[35] Ảnh hưởng của tội lỗi và quyền lực của điều ác làm hư hại mọi mặt đời sống con người (cả thuộc thể, thuộc linh, tâm trí, và các mối quan hệ). Những ảnh hưởng này xâm nhập vào đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị, và tôn giáo của mọi nền văn hóa thuộc mọi thời đại. Tội lỗi và điều ác gây nên những sự khốn khổ không thể nào kể xiết cho loài người, làm hư hoại những gì Chúa đã dựng nên. Trong khung cảnh ảm đạm này, Phúc Âm rõ ràng là một tin mừng.

B) Chúng ta yêu mến câu chuyện Phúc Âm. Phúc Âm công bố tin lành về những sự kiện lịch sử có liên quan đến cuộc đời, sự chết, và sự sống lại của Chúa Giê-xu người Na-xa-rét. Là dòng dõi vua Đa-vít, là Đấng chịu xức dầu làm vua, Chúa Giê-xu là Đấng mà Đức Chúa Trời chọn để thiết lập vương quốc của Ngài và đem sự cứu rỗi đến cho thế gian, khiến cho mọi dân tộc đều được phước như lời Chúa hứa cùng Áp-ra-ham. Phao-lô khởi đầu tin lành rằng ‘Đấng Christ chết vì tội lỗi chúng ta theo lời Kinh Thánh, rằng Ngài chịu chôn, đến ngày thứ ba Ngài sống lại cũng theo lời Kinh Thánh, và hiện ra cho Phi-e-rơ và nhóm mười hai sứ đồ.’ Phúc Âm công bố rằng tại thập giá, Đức Chúa Trời đặt lên trên Chúa Giê-xu sự phán xét mà chúng ta đáng ra phải chịu. Cũng trong hành động cứu chuộc được hoàn tất và được công bố thông qua sự sống lại, Đức Chúa Trời thắng hơn Sa-tan, sự chết, và mọi quyền lực của sự dữ. Ngài giải phóng chúng ta khỏi quyền lực và sự sợ hãi điều ác, đảm bảo những điều đó rồi sẽ bị huỷ diệt. Đức Chúa Trời khiến kẻ tin được phục hòa với Ngài và với người khác, vượt trên mọi rào cản và thù hận. Chúa cũng hoàn tất công cuộc phục hòa muôn vật, mà trong sự sống lại của Chúa Giê-xu Christ chúng ta được kể là trái đầu mùa. ‘Đức Chúa Trời trong Đấng Christ khiến muôn vật phục hòa với Ngài.’[36] Chúng ta thật yêu mến câu chuyện Phúc Âm đó.

C) Chúng ta yêu những điều mà Phúc Âm bảo đảm. Chỉ trong sự tin cậy Đấng Christ, chúng ta kết hiệp với Ngài trong Thánh Linh và được kể là công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Được xưng công bình bởi đức tin, chúng ta làm hòa cùng Chúa và không còn bị định tội. Chúng ta được tha thứ, được tái sanh và có niềm hy vọng trong sự sống lại của Đấng Christ. Chúng ta được nhận làm con nuôi và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ. Chúng ta là dân trong giao ước với Đức Chúa Trời, được bảo đảm về sự cứu chuộc và sự sống đời đời, vì sự cứu chuộc đó không nhờ nơi chúng ta, nhưng nhờ công lao cứu chuộc của Đấng Christ và nhờ lời hứa của Đức Chúa Trời. ‘Không có điều gì có thể chia cắt chúng ta khỏi tình yêu của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ là Chúa chúng ta.’[37] Chúng ta thật yêu mến lời hứa của Phúc Âm.

D) Chúng ta yêu sự biến đổi mà Phúc Âm đem lại. Phúc Âm là quyền năng của Đức Chúa Trời để biến đổi các cuộc đời giữa thế gian này. ‘Đó là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin.’[38] Đức tin là cách duy nhất để nhận được sự phước hạnh của Phúc Âm. Tuy nhiên đức tin đó không cứ thụ động, phải được bày tỏ thông qua sự vâng lời. Sự vâng lời chính là ‘đức tin bày tỏ tình yêu thương.’[39] Chúng ta không được cứu bởi việc lành, nhưng bởi được cứu mà chúng ta ‘được tạo dựng trong Đấng Christ để làm mọi việc lành.’[40] ‘Đức tin không có hành động là đức tin chết.’[41] Phao-lô nhìn thấy sự biến đổi về mặt đạo đức đến từ Phúc Âm thông qua việc làm của ân điển, là ân điển khiến chúng ta được cứu trong Đấng Christ khi Ngài đến, cũng là ân điển khiến chúng ta sống đời thánh sạch khi trông chờ Ngài trở lại.[42] Với Phao-lô, ‘vâng theo Phúc Âm’ có nghĩa là tin cậy vào ân điển, để ân điển hướng dẫn việc làm.[43] Sứ mạng truyền giáo của Phao-lô là đem ‘sự vâng phục trong đức tin’ đến cho mọi dân tộc.[44] Ngôn ngữ có tính giao ước này khiến gợi nhớ về Áp-ra-ham. Áp-ra-ham tin lời hứa của Đức Chúa Trời, nên được kể là công bình. Sự vâng lời của ông bày tỏ đức tin. ‘Bởi đức tin, Áp-ra-ham… vâng lời.’[45] Ăn năn và tin nhận Chúa Giê-xu là hành động vâng phục đầu tiên trong đức tin; cách sống của người tin đạo từ đó bày tỏ đức tin qua sự vâng lời, làm theo những mạng lệnh của Chúa trong sự thánh hóa bởi Đức Thánh Linh.[46] Vâng lời vì thế là bằng chứng và bông trái của đức tin. Sự vâng lời là phép thử tình yêu của chúng ta dành cho Đấng Christ. ‘Hễ ai có điều răn ta và làm theo, đó là kẻ yêu mến ta.’[47] ‘Chúng ta biết chúng ta biết Ngài, đó là vì chúng ta vâng theo các mạng lệnh Ngài.’[48] Chúng ta thật yêu mến quyền năng của Phúc Âm.

9. Yêu mến dân sự của Đức Chúa Trời

Dân sự của Đức Chúa Trời trải qua mọi thời đại, thuộc nhiều dân tộc khác nhau là những người mà Đức Chúa Trời đã yêu thương, chọn lựa, kêu gọi, cứu chuộc, và thánh hóa trong Đấng Christ để trở thành một dân dành riêng cho Ngài, chia sẻ sự vinh hiển của Đấng Christ bởi là dân sự được dựng nên mới. Là những kẻ được Chúa yêu từ trước vô cùng và tiếp tục được yêu trải qua những biến động của lịch sử, chúng ta nhận mạng lệnh yêu thương nhau. Vì ‘Chúa đã yêu chúng ta, nên chúng ta cũng yêu thương nhau,’ và nhờ đó, ‘bắt chước Đức Chúa Trời, sống yêu thương vì Đấng Christ đã yêu và phó chính mình Ngài vì chúng ta.’ Tình yêu thương trong gia đình của Đức Chúa Trời không chỉ là một điều đáng ao ước, nhưng còn là một mạng lệnh nghiêm ngặt. Tình yêu đó là chứng cứ đầu tiên bày tỏ sự vâng theo Phúc Âm, cần thiết để tôn cao Đấng Christ là Chúa, và là động cơ thi hành sứ mạng Cơ Đốc mọi nơi.[49]

A) Tình yêu kêu gọi hiệp một. Chúa Giê-xu kêu gọi môn đồ yêu thương nhau và cầu nguyện cho họ được hiệp một. Cả mạng lệnh và lời cầu nguyện đều có tính chất sứ mạng – ‘để cho thế gian biết các ngươi là môn đồ ta,’ và ‘để cho thế gian biết Cha đã sai Con đến.’[50] Dấu chỉ về lẽ thật lớn nhất của Phúc Âm là khi các tín đồ hiệp một trong tình yêu, trong khi thế gian bị chia rẽ bởi nạn phân biệt sắc tộc, màu da, giới tính, tầng lớp xã hội, đặc quyền kinh tế, haylợi ích chính trị. Tuy nhiên lời chứng của chúng ta cũng bị mất giá trị khi có những sự chia rẽ như vậy trong cộng đồng dân Chúa. Chúng ta tìm cách tạo nên sự liên kết trong thân thể Đấng Christ trải qua mọi lục địa nhờ sự tình yêu, vâng phục lẫn nhau, đồng thời chia sẻ kinh tế mà không gây ra những sự phụ thuộc thiếu lành mạnh. Chúng ta tìm kiếm điều này để bày tỏ sự hiệp một trong Phúc Âm, vì cớ Danh Chúa, và vì sứ mạng Cơ Đốc dành cho cả thế gian.

B) Tình yêu thương đòi hỏi trung thực. Tình yêu thương nói lên lẽ thật với lòng khoan dung. Không ai yêu dân sự Chúa hơn các tiên tri của Y-sơ-ra-ên và Chúa Giê-xu. Nhưng cũng không ai khiển trách dân sự với sự trung thực nhiều hơn các tiên tri và Chúa Giê-xu vì họ đã sai trật, thờ hình tượng, và nổi loạn chống lại cùng Chúa là Đấng có giao ước cùng họ. Khi khiển trách, các tiên tri cũng kêu gọi ăn năn, để dân sự được tha thứ và được phục hồi để tiếp bước trong sứ mạng của Chúa dành cho họ. Tình yêu có tính khiển trách sửa trị đó cần được lắng nghe ngày hôm nay. Vì yêu Hội Thánh, chúng ta đau buồn vì những việc xấu đã làm sai lệch hình ảnh Chúa Giê-xu, khiến thế gian không nhìn ra vẻ đẹp của Chúa trong khi đang rất cần Ngài.

C) Tình yêu kêu gọi đoàn kết. Tình yêu thương quan tâm đến những người đang chịu bắt bớ và chịu cảnh tù đày bởi đức tin và sự làm chứng cho Đấng Christ. Khi một phần thân thể đau, cả thân thể cùng đau. Cũng như Giăng, chúng ta ‘đồng chịu cảnh hoạn nạn và kiên nhẫn chờ đợi điều sẽ đến trong Chúa Giê-xu.’[51] Chúng ta cam kết chia sẻ sự chịu khổ trong thân thể Đấng Christ ở khắp mọi nơi bằng cách chia sẻ thông tin, cầu nguyện, bênh vực, và cung cấp những hỗ trợ khác. Đó không phải là hành động bày tỏ lòng trắc ẩn, nhưng nhờ sự liên kết mà những Hội Thánh đang không ở trong cùng cảnh khổ học biết về những điều mà một Hội Thánh đang chịu hoạn nạn có thể chia sẻ. Chúng ta cẩn thận khi Hội Thánh cảm thấy dễ chịu vì sự sung túc và đầy đủ của mình, kẻo trở nên giống như Lao-đi-xê, là Hội Thánh không nhìn thấy sự nghèo nàn thật của mình. Chúa Giê-xu cảm thấy Ngài chỉ là một người lạ đứng ngoài cửa Hội Thánh đó.[52]

Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đệ trở nên một gia đình giữa các dân tộc, là một hội thông công mà trong đó những rào cản tội lỗi bị xoá bỏ nhờ ân điển phục hồi của Chúa. Hội Thánh là cộng đồng của ân điển, của sự vâng lời, và của tình yêu trong sự giao thông cùng Thánh Linh, qua đó mà những đặc tính của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ được bày tỏ, sự khôn ngoan Chúa được trông thấy. Hội Thánh là phần dễ thấy nhất của vương quốc Đức Chúa Trời, là hội của những người đã được làm hòa cùng Chúa, không còn sống cho họ nữa nhưng sống cho Đấng đã yêu và phó chính mình Ngài vì cớ họ.

10. Yêu mến sứ mạng của Chúa

Chúng ta cam kết theo đuổi sứ mạng của Chúa, vì đó là trọng tâm của sự hiểu biết về Chúa, về Kinh Thánh, Hội Thánh, lịch sử nhân loại, và cả về sự chung cuộc tương lai. Cả Kinh Thánh bày tỏ sứ mạng của Đức Chúa Trời trong việc hòa hiệp muôn vật trên trời dưới đất với nhau trong Đấng Christ nhờ huyết đổ ra nơi thập giá của Ngài. Để làm trọn sứ mạng này, Đức Chúa Trời biến đổi muôn vật bị hư hoại trong tội lỗi và điều ác thành tân tạo vật mà trong đó không có sự tội và sự rủa sả. Chúa làm thành lời hứa cùng Áp-ra-ham rằng Ngài ban phước cho các dân tộc thông qua Phúc Âm của Chúa Giê-xu, Đấng chịu xức dầu, là dòng dõi của Áp-ra-ham. Chúa biến đổi các dân tộc đang bị tản lạc và chịu đoán xét thành một dân mới sẽ được cứu bởi dòng huyết của Đấng Christ thuộc mọi dân, mọi nước, mọi thứ tiếng. Họ sẽ nhóm nhau lại để thờ phượng Đức Chúa Trời và Đấng Cứu chuộc. Chúa sẽ phá huỷ quyền năng của sự chết, sự băng hoại và bạo lực. Đấng Christ sẽ trở lại để thiết lập sự cai trị trong sự sống, công lý, và hòa bình. Khi đó, Chúa, là Đấng Ê-ma-nu-ên, sẽ ở với chúng ta, và vương quốc trần gian sẽ trở nên vương quốc của Chúa và của Đấng Christ. Chúa sẽ cai trị đời đời.[53]

A) Chúng ta dự phần trong sứ mạng của Chúa. Chúa gọi dân sự tham gia trong sứ mạng của Ngài. Vì Chúa Giê-xu là Đấng chịu xức dầu, Hội Thánh khắp nơi là hội kế tục dân Chúa trong Cựu Ước. Cùng với họ chúng ta được kêu gọi trong Áp-ra-ham và có sứ mạng trở thành nguồn phước và sự sáng cho các dân tộc. Với họ, chúng ta được nắn đúc bởi luật pháp và lời tiên tri để trở nên một cộng đồng dân thánh, có lòng thương xót và công bình trong một thế giới đầy tội lỗi và khổ đau. Chúng ta được chuộc nhờ thập giá và sự sống lại của Chúa Giê-xu, cũng được ban cho quyền năng trong Thánh Linh để làm chứng về việc Đức Chúa Trời đã làm trong Đấng Christ. Hội Thánh là nơi thờ phượng và tôn cao Chúa đời đời, cũng là hội được chọn để tham dự vào sứ mạng của Chúa suốt dòng lịch sử. Sứ mạng của chúng ta bắt nguồn từ sứ mạng của Đức Chúa Trời dành cho cả cõi vạn vật, có nền tảng trọng tâm là sự cứu chuộc đắc thắng tại thập giá. Đó là hội mà chúng ta dự phần, có cùng đức tin, có cùng sứ mạng.

B) Tính chính trực của sứ mạng. Nguồn gốc của mọi sứ mạng là ở điều Chúa đã làm trong Đấng Christ để cứu chuộc toàn thế gian, như đã bày tỏ trong Kinh Thánh. Công tác truyền giáo của chúng ta là đem tin mừng đến cho muôn dân. Công trường truyền giáo là thế gian mà chúng ta sống, là nơi có tội lỗi, khổ đau, bất công, và hỗn loạn, là nơi Chúa sai chúng ta đi đến để yêu thương và phục vụ vì cớ Đấng Christ. Mọi sứ mạng đều phải bao gồm sự chia sẻ Tin Lành và cam kết dấn thân phục vụ trong thế gian, cả hai đều là mệnh lệnh và được thúc đẩy bởi sự mặc khải có trong Phúc Âm của Đức Chúa Trời.

“Truyền giáo là cách công bố Đấng Christ của Kinh Thánh và của lịch sử là Đấng cứu chuộc và là Chúa, thuyết phục mọi người đến với Ngài cách cá nhân và làm hòa cùng Đức Chúa Trời… Kết quả truyền giáo thường đem lại sự vâng phục Đấng Christ, tham gia vào Hội Thánh, có trách nhiệm phục vụ trong thế gian… Chúng ta xưng nhận rằng truyền giáo và các công tác dấn thân trong lãnh vực xã hội và chính trị đều là bổn phận Cơ Đốc, vì cả hai đều cần thiết để bày tỏ điều chúng ta tin về Đức Chúa Trời và về con người, bày tỏ tình yêu dành cho người lân cận, và bày tỏ sự vâng phục Đấng Christ… Sự cứu rỗi mà chúng ta công bố phải biến đổi trọn vẹn cả trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm xã hội của từng người. Đức tin không có việc làm là đức tin chết.[54]

“Sứ mạng trọn vẹn là công bố và sống Phúc Âm. Điều đó không đơn giản là truyền giáo và dấn thân phục vụ xã hội cùng lúc. Hơn thế, trong sứ mạng trọn vẹn, sự công bố Phúc Âm có ý nghĩa xã hội khi chúng ta kêu gọi mọi người yêu thương và ăn năn trong mọi phương diện cuộc sống. Việc dấn thân phụng sự xã hội cũng có ý nghĩa truyền giáo khi chúng ta làm chứng về ân điển có quyền năng thay đổi con người của Chúa Giê-xu. Khi chúng ta bỏ quên thế gian, chúng ta không làm đúng theo Lời đã gởi chúng ta đi vào thế gian để phục vụ. Khi chúng ta bỏ quên Lời Chúa, chúng ta không có gì để đem đến cho thế gian.”[55]

Chúng ta cam kết thực thi mọi mặt sứ mạng mà Chúa đã kêu gọi Hội Thánh.

  • Chúa có mạng lệnh chúng ta phải bày tỏ lẽ thật được Ngài mặc khải và Phúc Âm về ân điển cứu chuộc trong Đấng Christ cho muôn dân, kêu gọi họ ăn năn, tin nhận, làm phép báp-têm, và được môn đệ hóa trong sự vâng lời Chúa.
  • Chúa ra mạng lệnh cho chúng ta bày tỏ đặc tính của Ngài thông qua sự chăm sóc và có lòng thương xót người thiếu thốn, bày tỏ những giá trị và quyền năng của nước Thiên đàng trong việc tìm cầu công lý và hòa bình, cũng phải có bổn phận chăm sóc thiên nhiên vạn vật.

Để đáp ứng tình yêu rộng lớn của Chúa trong Đấng Christ, xuất phát từ tình yêu của chúng ta đối với Ngài, chúng ta tái dâng mình, trong sự giúp đỡ của Thánh Linh, để làm theo tất cả mạng lệnh của Chúa trong sự khiêm nhường vâng phục, vui mừng, can đảm. Chúng ta làm mới lại cam kết với Chúa – là Đấng chúng ta yêu vì Ngài đã yêu chúng ta trước.

Phần II – Cho thế gian mà chúng ta muốn giúp đỡ: Lời mời gọi thực hành đức tin từ Cape Town

Lời Giới Thiệu

Giao ước của chúng ta với Chúa xây dựng trên tình yêu và sự làm theo lời Chúa. Chúa vui khi nhìn thấy ‘công việc của đức tin’ và ‘việc làm bởi tình yêu thương,’[56] vì ‘chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.’[57]

Là thuộc viên Hội Thánh toàn cầu của Chúa Giê-xu, chúng ta tìm nghe tiếng Chúa phán qua Thánh Linh. Chúng ta cũng đã nghe tiếng Chúa qua Lời được chép trong Ê-phê-sô 2:10 và qua sự chia sẻ của các Cơ Đốc nhân đến từ khắp nơi. Sáu chủ đề chính của Hội đồng cũng là những thách thức mà Hội Thánh toàn cầu của Chúa Giê-xu đang phải đối diện, cũng có thể được xem là những công tác ưu tiên của chúng ta trong tương lai. Dĩ nhiên, đây không phải là tất cả những điều mà Hội Thánh nên làm. Mỗi Hội Thánh cũng sẽ chọn cho mình thứ tự ưu tiên khác nhau.

IIA. Làm chứng về lẽ thật của Đấng Christ trong thế giới đa nguyên và toàn cầu hóa

1. Lẽ thật Cơ Đốc và Đấng Christ

Đức Chúa Giê-xu Christ là lẽ thật cao nhất. Vì Chúa Giê-xu là lẽ thật, nên lẽ thật ở trong Đấng Christ (i) là đề tài nghị luận, nhưng có ý nghĩa cá nhân; (ii) là chân lý phổ quát, nhưng thích ứng hoàn cảnh cụ thể; (iii) là lời tối hậu về tương lai, nhưng phù hợp hiện tại.

A) Là môn đồ Đấng Christ, chúng ta được kêu gọi trở nên dân sự của lẽ thật.

1. Chúng ta sống theo lẽ thật. Sống theo lẽ thật là trở nên như Chúa Giê-xu, chiếu ra sự vinh hiển của Phúc Âm cho những tâm trí chưa nhìn thấy sự sáng. Mọi người sẽ thấy lẽ thật trên khuôn mặt của những ai sống cho Chúa cách trung tín và yêu thương.

2. Chúng ta rao giảng lẽ thật. Rao giảng lẽ thật Phúc Âm vẫn luôn là điều quan trọng bậc nhất trong sứ mạng Cơ Đốc. Điều này không thể bị tách ra khỏi việc sống theo lẽ thật. Lời nói phải đi đôi với việc làm.

B) Chúng ta kêu gọi những lãnh đạo Hội Thánh, các mục sư, và truyền đạo phải giảng dạy đầy đủ mọi chiều kích chân lý Phúc Âm, như Phao-lô đã làm. Chúng ta không trình bày Phúc Âm như là một sự cứu rỗi cá nhân, hay là một giải pháp tốt hơn điều mà các thần thánh khác có thể đem lại để giải quyết những nan đề của con người. Phúc Âm là chương trình của Đức Chúa Trời dành cho toàn cõi vũ trụ trong Đấng Christ. Đôi lúc người ta tìm đến Đấng Christ vì lợi ích cá nhân, nhưng họ sẽ cứ ở trong Ngài khi nhìn biết rằng trong Ngài có lẽ thật.

2. Lẽ thật Cơ Đốc và chủ nghĩa đa nguyên

Sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo là một thực tế. Cơ Đốc nhân ở Châu Á đã sống với điều đó suốt nhiều thế kỷ. Các tôn giáo đều khẳng định rằng họ biết con đường dẫn đến chân lý. Đa số sẽ chọn giải pháp tôn trọng điều mà các tôn giáo khác tuyên bố là lẽ thật và tiếp tục chung sống cạnh nhau. Tuy nhiên, chủ nghĩa đa nguyên của những người ủng hộ thuyết tương đối hậu hiện đại lại hoàn toàn khác: Hệ tư tưởng đa nguyên phủ nhận sự tồn tại của chân lý phổ quát hay tuyệt đối. Mặc dầu bao dung trước những tuyên bố về lẽ thật, tư tưởng đa nguyên xem đó chỉ là những sản phẩm chủ quan của văn hóa. (Tư tưởng đa nguyên cũng tự mâu thuẫn khi khẳng định tuyệt đối rằng không hề có bất cứ một chân lý tuyệt đối nào.) Chủ nghĩa đa nguyên này coi ‘sự bao dung’ là giá trị tối hậu, nhưng cũng có thể khoác lên mình những hình thức bạo lực ở tại các quốc gia nơi chủ nghĩa thế tục hay chủ nghĩa vô thần quá khích nắm quyền điều hành xã hội.

A) Chúng ta mong mỏi nhìn thấy một sự cam kết mạnh mẽ hơn trong công tác biện giáo đầy khó khăn trước chủ nghĩa đa nguyên. Điều này phải được thực hiện ở hai cấp độ.

1. Chúng ta nhìn nhận, trang bị, và cầu thay cho những người sẽ thực hiện công tác biện hộ và bảo vệ lẽ thật của Kinh Thánh ở mức độ hàn lâm và phổ thông cao nhất.

2. Chúng ta kêu gọi những lãnh đạo Hội Thánh cùng các mục sư giúp cho các tín hữu có thêm lòng dạn dĩ và những công cụ tư duy để có thể nối kết lẽ thật với những sự việc xảy ra trong cuộc sống thường nhật và với mọi khía cạnh văn hóa nơi chúng ta đang sinh sống.

3. Lẽ thật Cơ Đốc và nơi làm việc

Sự lao động nằm trong mục đích tốt lành của Chúa dành cho cõi tạo vật. Mọi việc làm đều nằm trong khuôn khổ của sự phục vụ; chúng ta phục vụ Chúa trong những sự kêu gọi khác nhau. Trong suy nghĩ và hoạt động của Hội Thánh, có một sự phân định sai lầm rằng có những công việc ‘thế tục’ và những công việc ‘thiêng liêng.’ Theo sự phân định này, những công việc tôn giáo mới thật sự thuộc về Chúa, còn các công việc khác thì không. Phần lớn thời gian của các Cơ Đốc nhân là ở tại nơi làm việc, là điều họ nghĩ rằng không có giá trị thuộc linh nào. Tuy nhiên, Chúa là Chúa của trọn đời sống. Phao-lô đã nói với những người đang lao động rằng, ‘hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta.’[58]

Dù nơi làm việc là một cơ hội lớn để chia sẻ Phúc Âm và tạo nên sự biến đổi, là nơi Cơ Đốc nhân trưởng thành có nhiều mối liên hệ nhất với những người chưa tin Chúa, chỉ có một vài Hội Thánh có khải tượng trong việc trang bị cho các tín hữu nắm bắt lấy cơ hội này. Chúng ta thất bại trong việc nhận ra tầm quan trọng của lao động trong bản chất vốn có của nó theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, như vậy chúng ta cũng thất bại trong việc đem trọn đời sống mình đặt dưới quyền làm chủ của Đấng Christ.

A) Chúng ta kể sự phân định ‘thiêng liêng’ và ‘thế tục’ là rào cản lớn trong việc kêu gọi toàn thể dân sự Chúa thực thi sứ mạng Cơ Đốc. Chúng ta kêu gọi Cơ Đốc nhân toàn cầu loại bỏ suy nghĩ không đúng với Kinh Thánh này và ngăn chặn những ảnh hưởng nặng nề của nó. Chúng ta phủ nhận quan điểm xem mục vụ và công tác truyền giáo (tại địa phương hay ở nơi khác) chủ yếu là công việc của những mục sư và giáo sĩ được Hội Thánh trả lương, vì những người này chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong thân thể Đấng Christ.

B) Chúng ta khích lệ các Cơ Đốc nhân đồng lòng xác quyết họ có mục vụ và công tác chia sẻ Phúc Âm hàng ngày ở tại bất cứ đâu mà Chúa kêu gọi họ đến làm việc. Chúng ta kêu gọi các mục sư và lãnh đạo Hội Thánh hỗ trợ các tín hữu trong mục vụ này – tại nơi sinh sống và nơi làm việc của họ – ‘để các thánh đồ được trang bị cho chức dịch’ – trong mọi lãnh vực đời sống.

C) Chúng ta nỗ lực đào tạo dân sự Chúa trong việc sống đời sống môn đệ trọn vẹn, có lối sống, suy nghĩ, việc làm, và lời nói đều phát xuất từ thế giới quan của Kinh Thánh, để kết quả cho Tin Lành trong mọi nơi và mọi hoàn cảnh của đời sống và công việc hàng ngày.

Cơ Đốc nhân với những ngành nghề và lãnh vực kinh doanh khác nhau thường có thể đi đến những nơi mà những người mở mang Hội Thánh cùng những nhà truyền giáo theo cách truyền thống không thể đi đến được. Điều mà những ‘người may trại’ và những doanh nhân này làm ở tại nơi làm việc phải được xem trọng như là một phần của mục vụ Hội Thánh địa phương.

D) Chúng ta cần kêu gọi các lãnh đạo Hội Thánh hiểu được tầm ảnh hưởng chiến lược của mục vụ tại nơi làm việc, đồng thời huy động, trang bị, và xem các tín đồ như là những giáo sĩ tại nơi làm việc của họ tại quốc nội lẫn tại các quốc gia mà cách thức chia sẻ Phúc Âm theo kiểu truyền thống không thể tiến hành được.

E) Chúng ta kêu gọi những lãnh đạo truyền giáo kết hiệp với ‘những người may trại,’ xem đây là một hợp phần của chiến lược truyền giáo toàn cầu.

4. Lẽ thật Cơ Đốc và truyền thông toàn cầu

Chúng ta cam kết tiếp cận truyền thông và kỹ thuật với tư duy thận trọng và sáng tạo đã được làm mới lại trong Chúa, xem đây là một phần công tác phổ biến lẽ thật của Đấng Christ trong văn hóa truyền thông của chúng ta ngày nay. Chúng ta cần làm truyền thông trong vai trò đại sứ của lẽ thật, ân điển, tình yêu, hòa bình, và công lý của Chúa.

Chúng ta nhìn nhận những nhu cầu chính yếu sau:

A) Ý thức truyền thông: giúp mọi người nâng cao ý thức, cẩn trọng về những thông điệp mà họ tiếp nhận cùng thế giới quan ẩn chứa bên trong chúng. Truyền thông có thể mang tính chất trung dung, và đôi lúc cũng mang tính chất truyền bá Phúc Âm. Nhưng chúng đồng thời cũng được sử dụng cho văn hóa phẩm đồi trụy, bạo lực, và tham lam. Chúng ta khích lệ các mục sư và Hội Thánh đối diện với những vấn đề này cách công khai, dạy dỗ và hướng dẫn cho các tín hữu để họ có thể chống cự lại những áp lực cùng với cám dỗ đến từ truyền thông.

B) Sử dụng truyền thông: phát triển những khuôn mẫu truyền thông Cơ Đốc chân chính và đáng tin cậy trong lãnh vực thông tin đại chúng và giải trí, nhìn nhận những công việc này là phương tiện thích hợp để tạo ra ảnh hưởng cho Đấng Christ.

C) Những mục vụ truyền thông: sử dụng sáng tạo, kết hợp, và đan xen cả các cách truyền thông ‘truyền thống’, ‘cũ,’ và ‘mới’ để truyền tải trọn vẹn Phúc Âm của Đấng Christ và thế giới quan Kinh Thánh.

5. Lẽ thật Cơ Đốc và nghệ thuật đối với sứ mạng Cơ Đốc

Chúng ta có tư duy sáng tạo vì mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Nghệ thuật dưới nhiều hình thức khác nhau là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người, có tiềm năng bày tỏ vẻ đẹp cùng chân lý của Chúa. Người nghệ sĩ với những khả năng tuyệt vời là người trình bày lẽ thật, và nghệ thuật là một phương tiện quan trọng để truyền rao Phúc Âm. Kịch nghệ, vũ đạo, truyện kể, âm nhạc và tranh ảnh minh họa là những phương tiện trình bày nội dung trọng tâm của Phúc Âm, về cả sự hư mất của thế gian lẫn niềm hy vọng rằng muôn vật sẽ được đổi mới.

Trong lãnh vực truyền giáo, nghệ thuật là nguồn tài nguyên chưa được khai thác. Chúng ta tích cực khích lệ Cơ Đốc nhân mạnh dạn khai thác những hình thức nghệ thuật nhiều hơn.

A) Chúng ta mong ước nhìn thấy Hội Thánh trong mọi nền văn hóa mạnh dạn sử dụng những hình thức nghệ thuật để truyền giảng Tin Lành bằng cách:

1. đem những hình thức nghệ thuật quay trở lại với đời sống của cộng đồng đức tin, xem nghệ thuật là một phần chính thức và có giá trị đối với sự kêu gọi môn đệ hóa của chúng ta;

2. hỗ trợ những người có năng khiếu nghệ thuật, đặc biệt là những anh chị em trong Chúa để họ có thể phát triển khả năng của mình;

3. để nghệ thuật đóng vai trò là một môi trường kết nối để chúng ta có thể bày tỏ mình và hiểu thêm về những người lân cận cùng những người khách lạ;

4. tôn trọng những khác biệt về văn hóa và tôn vinh việc sử dụng nghệ thuật bản địa.

6. Lẽ thật Cơ Đốc và những tiến bộ khoa học kỹ thuật

Thế kỷ này được biết đến là thế kỷ của ‘Công nghệ sinh học,’ với những tiến bộ công nghệ đang dần nổi lên (sinh học, thông tin/kỹ thuật số, công nghệ nano, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, chế tạo robot). Điều này ảnh hưởng sâu sắc trên Hội Thánh và sứ mạng Cơ Đốc, cụ thể là trong mối quan hệ với lẽ thật Kinh Thánh về ý nghĩa của sinh mệnh và cuộc sống. Chúng ta cần tìm những câu trả lời xác thực và có những hành động cụ thể để đảm bảo rằng các chính sách công về khoa học và kỹ thuật không bị lạm dụng để thao túng, bóp méo, và hủy hoại, nhưng sẽ được dùng để bảo tồn và giúp con người sống trọn vẹn hơn trong địa vị là tạo vật mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên theo hình ảnh của Ngài. Chúng ta kêu gọi:

A) Các lãnh đạo Hội Thánh địa phương cần (i) khích lệ, hỗ trợ, đặt câu hỏi cho tín hữu Hội Thánh làm việc trong các ngành liên quan đến khoa học, kỹ thuật, y tế, và chính sách công, và (ii) trình bày cho các sinh viên thần học về nhu cầu Cơ Đốc nhân tham gia những lĩnh vực này.

B) Các chủng viện cần bàn về những lãnh vực này trong chương trình học, để những lãnh đạo Hội Thánh tương lai và những nhà giáo dục thần học có sự am hiểu và khả năng phê bình những công nghệ mới từ quan điểm Cơ Đốc.

C) Các nhà thần học và tín hữu làm việc trong cơ quan chính phủ, trên thương trường, trong giới học thuật và kỹ thuật cần xây dựng những ‘nhóm chuyên gia cố vấn’ hoặc những mạng lưới kết nối theo quốc gia hay khu vực để bàn luận về những công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, góp phần định hình các chính sách công theo những quan điểm Cơ Đốc hợp lý.

D) Các cộng đồng Cơ Đốc cần thể hiện sự tôn trọng đối với giá trị và tính chất thiêng liêng của con người, dùng hành động thực tế để chăm sóc con người cách trọn vẹn trong các khía cạnh thể chất, cảm xúc, tâm linh, và quan hệ tương giao với người khác.

7. Lẽ thật Cơ Đốc và những lĩnh vực chung trong đời sống xã hội

Những lĩnh vực chính trị, thương mại và giáo dục thường có ảnh hưởng qua lại, tạo dựng nên giá trị quốc gia và, theo ngôn ngữ của con người, đặt ra giới hạn về sự tự do của Hội Thánh.

A) Người Cơ Đốc cần tích cực dự phần trong những lãnh vực này, trong cả khu vực hành chính công và khu vực tư nhân, để có thể định hình những giá trị của xã hội và tạo ảnh hưởng trên việc tranh luận công khai. Chúng ta khích lệ ủng hộ những trường học lấy Đấng Christ làm trọng tâm và các trường đại học cam kết theo đuổi việc đào tạo có chất lượng sát với chân lý Kinh Thánh.

B) Kinh Thánh lên án nạn tham nhũng. Tham nhũng làm suy yếu kinh tế, bóp méo các quyết định, phá hủy sự gắn kết xã hội. Không một quốc gia nào tránh khỏi tham nhũng. Chúng ta kêu gọi Cơ Đốc nhân trong nơi làm việc, đặc biệt là những doanh nhân trẻ, tìm ra những cách thức mới để chống lại tệ nạn này cách tốt nhất.

C) Chúng ta khích lệ những Cơ Đốc nhân trẻ tuổi trong ngành giáo dục suy nghĩ đến việc dạy học dài hạn trong các trường đại học không phải là trường Cơ Đốc, để họ (i) dạy và (ii) phát triển kiến thức chuyên môn dựa trên thế giới quan Kinh Thánh, qua đó tạo ảnh hưởng trên lãnh vực học thuật của mình. Chúng ta không bỏ qua lãnh vực giáo dục quan trọng này.[59]

IIB. Gây dựng hòa bình của Đấng Christ trong thế giới tan vỡ và đầy chia rẽ

1. Sự hòa bình Đấng Christ đã thiết lập

Sự làm hòa với Đức Chúa Trời không bao giờ tách rời khỏi sự làm hòa giữa con người với nhau. Đấng Christ, là sự hòa bình của chúng ta, đã làm nên sự hòa thuận này trên thập tự giá và rao ra điều đó cho thế gian vốn bị phân rẽ giữa người Do Thái và người ngoại. Sự hiệp một của dân sự Đức Chúa Trời vừa là một thực tại (‘Ngài đã hiệp cả hai lại làm một’), và cũng là sứ mạng (‘cố gắng duy trì sự hiệp nhất của Thánh Linh bằng sợi dây hòa bình.’) Chương trình của Chúa trong việc hiệp nhất muôn vật trong Đấng Christ được minh họa qua việc các dân tộc được hòa thuận với tuyển dân của Đức Chúa Trời. Đó là năng quyền của Phúc Âm, như đã hứa cho Áp-ra-ham.[60]

Chúng ta tin rằng mặc dầu người Do Thái không xa lạ với những giao ước và lời hứa của Đức Chúa Trời như những dân ngoại mà Phao-lô miêu tả, người Do Thái vẫn trong tình trạng cần được phục hòa với Đức Chúa Trời thông qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Như Phao-lô đã nói, không hề có sự phân biệt nào giữa người Do Thái và dân ngoại trong tội lỗi, cũng như trong sự cứu rỗi. Chỉ nhờ thập tự giá mà cả hai đều nhờ một Thánh Linh mà được đến gần Đức Chúa Cha.[61]

A) Chính vì vậy, chúng ta vẫn cứ xác quyết cách mạnh mẽ cho Hội Thánh chung về nhu cầu cần phải chia sẻ Tin Lành của Cứu Chúa Giê-xu, là Chúa và là Đấng Cứu Thế, cho người Do Thái.

Sự hòa thuận với Đức Chúa Trời và với nhau là nền tảng và động lực cốt lõi cho việc đeo đuổi công lý mà Chúa đòi hỏi. Chúa phán nếu không có công lý thì cũng sẽ không có hòa bình. Sự phục hòa thật sự và lâu dài đòi hỏi thừa nhận những tội lỗi trong quá khứ lẫn hiện tại, ăn năn trước mặt Chúa, xưng tội trước người chịu tổn thương, tìm kiếm và đón nhận sự tha thứ. Sự phục hòa cũng bao gồm cam kết theo đuổi công lý và sự bồi thường cho những người đã chịu tổn hại bởi bạo lực và áp bức khi cần thiết.

B) Chúng ta mong nhìn thấy Hội Thánh của Đấng Christ ở khắp nơi trên thế giới, là những người đã được làm hòa cùng Đức Chúa Trời, sẽ bày tỏ sự phục hòa đó qua cách chúng ta sống với nhau, cam kết hành động theo Kinh Thánh để làm người khác hòa thuận trong danh Đấng Christ.

2. Hòa bình của Đấng Christ cho xung đột chủng tộc

Đa dạng chủng tộc là món quà và chương trình của Đức Chúa Trời cho cõi tạo vật.[62] Điều đó đã bị phá hỏng bởi tội lỗi và sự kiêu ngạo của con người, dẫn đến rối loạn, xung đột, bạo lực và chiến tranh giữa các quốc gia. Tuy nhiên, đa dạng chủng tộc vẫn sẽ được bảo tồn trong cõi tạo vật mới, khi muôn dân từ các quốc gia, dân tộc, và ngôn ngữ sẽ tập hợp lại như một dân được cứu chuộc thuộc về Đức Chúa Trời.[63] Chúng ta thừa nhận thường thất bại trong việc coi trọng tính độc đáo của mỗi dân tộc và trân quý điều đó, là điều Kinh Thánh bày tỏ trong cõi tạo vật lẫn trong chương tình cứu chuộc. Chúng ta thất bại trong việc tôn trọng bản sắc của các dân tộc khác và phớt lờ đi những tổn thương sâu sắc mà sự thiếu tôn trọng đó đã gây ra.

A) Chúng ta kêu gọi các mục sư và lãnh đạo Hội Thánh dạy dỗ lẽ thật của Kinh Thánh về đa dạng chủng tộc. Chúng ta phải xác quyết cách rõ ràng tính độc đáo về chủng tộc của mọi tín hữu trong Hội Thánh. Đồng thời, chúng ta cũng chỉ ra rằng lòng trung thành với bản sắc dân tộc đã bị huỷ hoại bởi tội lỗi, và rằng mọi bản sắc riêng không quan trọng bằng bản sắc con người mới được chuộc trong Đấng Christ bởi thập tự giá.

Chúng ta đau thương thừa nhận sự đồng lõa của các Cơ Đốc nhân trong nhiều trường hợp bạo lực và đàn áp chủng tộc tồi tệ nhất, cũng như sự im lặng đáng buồn của phần lớn Hội Thánh khi những xung đột như vậy xảy ra. Những trường hợp như vậy bao gồm cả lịch sử và di sản của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và nô lệ người da đen; nạn diệt chủng chống lại người Do Thái; nạn phân biệt chủng tộc ở Nam Phi; nạn ‘thanh trừng’ sắc tộc; xung đột bạo lực giữa các hệ phái Cơ Đốc; nạn diệt chủng những dân tộc bản địa; xung đột vũ lực giữa các tôn giáo, đảng phái và sắc tộc; nỗi thống khổ của người Palestine; sự phân chia giai tầng xã hội; và tội diệt chủng các bộ lạc. Những Cơ Đốc nhân dù trực tiếp dự phần hay im lặng bàng quan đều khiến sự tan vỡ của thế giới này thêm trầm trọng, làm cho lời chứng của chúng ta về Phúc Âm bình an bị tổn hại nghiêm trọng. Vì vậy:

B) Vì cớ Phúc Âm, chúng ta than khóc và kêu gọi Cơ Đốc nhân đã tham gia trong nạn bạo lực, bất công hay áp bức chủng tộc cần ăn năn. Chúng ta cũng kêu gọi sự ăn năn vì nhiều lần các tín hữu Cơ Đốc đã dự phần trong những việc ác đó qua việc giữ im lặng, đồng tình, giữ thái độ trung lập, hoặc đưa ra lý giải thần học phiến diện để bào chữa cho những vấn nạn trên.

Nếu Phúc Âm không đặt nền móng vững chắc tại từng bối cảnh địa phương, không thách thức và biến đổi những thế giới quan và hệ thống cai trị bất công, thì khi những điều ác xảy ra, danh xưng “người Cơ Đốc” sẽ bị vứt đi như một chiếc áo khoác vô ích, và nhiều người sẽ quay trở về với những niềm tin và cách sống của những người chưa được tái sanh. Truyền giảng mà không tiến đến việc môn đệ hóa, hay phấn hưng mà bỏ qua việc làm theo những mạng lệnh của Đấng Christ thì không chỉ là một sự khiếm khuyết nhưng còn là một mối nguy hiểm.

Chúng ta mong ước đến ngày Hội Thánh sẽ trở nên tấm gương sáng nhất trong việc hòa giải các dân tộc và đóng vai trò chủ động nhất trong việc giải quyết xung đột.

Lòng mong mỏi có nền tảng vững chắc trong Phúc Âm kêu gọi chúng ta phải:

C) Nắm lấy trọn vẹn và rao giảng quyền năng khiến người hòa thuận của Phúc Âm. Điều này bao gồm sự hiểu biết trọn vẹn về sự chuộc tội theo Kinh Thánh: rằng Chúa Giê-xu không chỉ mang lấy tội lỗi của chúng ta trên thập tự giá để phục hòa chúng ta với Đức Chúa Trời, nhưng Ngài còn phá hủy đi sự thù nghịch của chúng ta, đem chúng ta hòa thuận lại với nhau.

D) Mặc lấy lối sống hòa thuận, được bày tỏ cụ thể khi Cơ Đốc nhân:

1. tha thứ những người bắt bớ, và can đảm thách thức sự bất công để bênh vực người khác;

2. giúp đỡ và giàu lòng hiếu khách đối với những người lân cận ‘đứng ở phía bên kia chiến tuyến,’ chủ động vượt qua những mâu thuẫn để tìm kiếm sự làm hòa;

3. tiếp tục làm chứng về Đấng Christ trong hoàn cảnh xung đột bạo lực; sẵn sàng chịu khổ, thậm chí chịu chết chứ không dự phần vào trong những hành vi tàn độc và trả đũa;

4. dự phần vào công tác dài hạn chữa lành những vết thương sau khi xung đột xảy ra, biến Hội Thánh trở nên một nơi trú ẩn an toàn và chữa lành cho tất cả mọi người, bao gồm cả những kẻ thù nghịch trước đây.

E) Trở nên ngọn hải đăng chiếu ra ánh sáng của hy vọng. Chúng ta làm chứng về Đức Chúa Trời, là Đấng đem thế gian trở lại phục hòa cùng Ngài trong Đấng Christ. Chỉ trong Đấng Christ, nhờ sự đắc thắng của thập giá và sự phục sinh của Chúa mà chúng ta có uy quyền để đối đầu cùng những thế lực tối tăm đang làm sự xung đột của con người trở nên tồi tệ hơn, và cũng có năng quyền để đem tình yêu và sự bình an hòa giải của Chúa đến cho mọi người.

3. Hòa bình của Đấng Christ cho người nghèo và người bị áp bức

Sự cam kết tìm kiếm sự công bằng và bình an cho người nghèo và người bị áp bức của chúng ta có nền tảng Kinh Thánh, được tóm lại trong Cam kết Cape Town, phần 1, mục 7C. Trên nền tảng đó, chúng ta mong muốn các Cơ Đốc nhân sẽ có nhiều hành động hiệu quả về:

Nạn nô lệ và buôn người

Thế giới ngày nay có nhiều nô lệ hơn (ước tính vào khoảng 27 triệu người) so với 200 năm trước, là thời điểm Wilberforce đấu tranh để bãi bỏ nạn buôn bán nô lệ ở hai bên bờ Đại Tây Dương. Chỉ riêng Ấn Độ, ước tính có đến 15 triệu nô lệ trẻ em. Việc phân chia tầng lớp xã hội gây áp bức cho người thuộc tầng lớp thấp, và khiến người Dalit là tầng lớp thấp nhất bị loại trừ. Điều đáng buồn là Hội Thánh nhiều nơi cũng bị tiêm nhiễm những hình thức phân biệt đối xử như vậy. Hội Thánh cần có tiếng nói chung chống lại thế lực đang điều khiển một trong những hệ thống nô dịch lâu đời nhất trên thế giới này. Để tiếng nói chung đó có độ tin cậy cao, cần loại đi những sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử ngay bên trong Hội Thánh.

Việc di cư ồ ạt vì nhiều lý do với mức độ chưa từng có trước đây trên thế giới hôm nay đã dẫn vấn nạn buôn người trên mọi lục địa. Hình thức phổ biến là nô dịch tình dục phụ nữ và trẻ em, cũng như lạm dụng trẻ em qua việc cưỡng ép lao động và tham gia quân đội.

A) Hội Thánh khắp nơi trên thế giới hãy đứng lên đấu tranh chống lại tội ác buôn người, trong lời nói và việc làm cần có tính tiên tri, là để ‘những người bị giam cầm được phóng thích.’ Điều này bao gồm việc lên án những yếu tố xã hội, kinh tế, và chính trị đã dung dưỡng tình trạng buôn bán người. Những người nô lệ trong thế giới này đang kêu gọi Hội Thánh trên toàn thế giới: “Hãy giải phóng con cái chúng tôi. Giải phóng phụ nữ chúng tôi. Hãy là tiếng nói của chúng tôi. Hãy chỉ cho chúng tôi thấy xã hội mới mà Chúa Giê-xu đã hứa.’

Nghèo đói

Lời chứng của toàn bộ Kinh Thánh tỏ cho chúng ta thấy rằng Chúa mong muốn cả sự công bình trong hệ thống kinh tế và lòng thương xót, tôn trọng, và hào phóng đối với những người nghèo và thiếu thốn. Chúng ta vui mừng vì sự dạy dỗ này của Kinh Thánh đã dần trở nên một phần trong chiến lược và việc thực thi sứ mạng Cơ Đốc của chúng ta, giống như trong thời của Hội Thánh đầu tiên và Phao-lô.[64]

Theo đó, chúng ta cần:

B) Nhận ra cơ hội lớn mà chương trình Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Tổ chức Y tế Thế giới đem đến cho cả Hội Thánh địa phương lẫn Hội Thánh toàn cầu. Chúng ta kêu gọi các Hội Thánh vận động cho chương trình này trước các chính phủ, cũng như dự phần vào những nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra, ví dụ tham gia chương trình Micah Challenge tại Hoa Kỳ.

C) Can đảm công bố rằng thế giới không thể đề cập đến, chứ đừng nói đến giải quyết, vấn nạn nghèo đói mà không nói đến thực trạng giàu có và tham lam quá mức. Phúc Âm thách thức chủ nghĩa tiêu thụ quá trớn. Phục vụ Chúa chứ không phải phục vụ tiền tài, chúng ta kêu gọi từ bỏ sự tham lam, vì nạn nghèo đói kéo dài do sự tham lam của người đã dư thừa. Đồng thời, chúng ta vui mừng vì Phúc Âm cũng kêu gọi người giàu, như tất cả mọi người khác, cùng ăn năn và gia nhập cộng đồng những người được biến đổi bởi sự tha thứ của ân điển.

4. Hòa bình của Đấng Christ cho những người khuyết tật

Người khuyết tật là một trong những nhóm thiểu số lớn nhất trên thế giới, ước tính có hơn 600 triệu người. Đa số họ sống ở các nước kém phát triển nhất và thuộc về nhóm những người nghèo nhất trong số những người nghèo. Mặc dầu sự khiếm khuyết về thân thể lẫn trí óc là điều họ đã phải chịu đựng mỗi ngày, đa số họ còn bị cô lập bởi thái độ kỳ thị, bất công, và thiếu cơ hội tiếp cận các nguồn hỗ trợ. Phục vụ người khuyết tật không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc y tế và xã hội; nhưng nó còn bao gồm cả việc cùng họ, những người chăm sóc, và gia đình của họ đấu tranh chống lại nạn phân biệt đối xử và bất công, ở trong Hội Thánh lẫn ngoài xã hội. Chúa kêu gọi chúng ta đến với họ trong tình bạn không phân biệt, bày tỏ sự tôn trọng, yêu thương và công bình.

A) Chúng ta, tất cả Cơ Đốc nhân trên khắp thế giới, hãy cùng nhau đứng lên loại bỏ đi những định kiến của xã hội, như Phao-lô đã nói, ‘chúng tôi không theo xác thịt mà nhận biết ai nữa.’[65] Được dựng nên theo hình ảnh của Chúa, chúng ta đều có những ân tứ có thể sử dụng cho công tác của Ngài. Chúng ta cam kết phục vụ những người khuyết tật cũng như đón nhận những điều mà họ có và ban cho chúng ta.

B) Chúng ta khích lệ Hội Thánh và những lãnh đạo Cơ Đốc không chỉ nghĩ đến việc truyền giảng cho những người khuyết tật mà thôi, mà còn nhìn nhận, củng cố lòng tin, và tạo điều kiện để họ dự phần trong sứ mạng Cơ Đốc, vì họ cũng là những chi thể có cùng sứ mạng như chúng ta trong Thân Thể Đấng Christ.

C) Chúng ta đau buồn vì nhiều người khuyết tật được dạy rằng sự khiếm khuyết của họ là do tội lỗi, thiếu đức tin, không sẵn lòng để được chữa lành của cá nhân họ. Chúng ta phủ nhận điều này, vì đó không phải là chân lý phổ quát theo Kinh Thánh.[66] Sự dạy dỗ sai lạc đó đến từ sự vô cảm và kém thiếu thuộc linh của người chăn bầy, chất thêm mặc cảm tội lỗi và sự tuyệt vọng lên trên những rào cản mà người khuyết tật đã phải đối diện.

D) Chúng ta cam kết giúp các Hội Thánh trở nên những nơi chào đón và đối đãi công bằng với những người khuyết tật, luôn đứng bên cạnh họ trong việc đấu tranh chống lại định kiến và vận động, bênh vực cho những nhu cầu của họ trong xã hội.

5. Hòa bình của Đấng Christ cho những người nhiễm HIV

HIV và AIDS cũng là một vấn nạn lớn tại nhiều quốc gia. Hàng triệu người đã bị nhiễm HIV, bao gồm cả những người trong các Hội Thánh, và hàng triệu trẻ em phải chịu cảnh mồ côi vì bệnh AIDS. Chúa kêu gọi chúng ta bày tỏ ra tình yêu và lòng thương xót của Ngài đối với tất cả những người đang nhiễm bệnh và chịu ảnh hưởng bởi căn bệnh này, cũng như nỗ lực hết sức có thể để cứu sống họ. Chúng ta tin rằng sự dạy dỗ và tấm gương của Chúa Giê-xu, cũng như quyền năng biến đổi của thập tự giá và sự phục sinh của Ngài, là trọng tâm đáp ứng của Phúc Âm trọn vẹn trong thế giới đang cần giải pháp trước HIV và AIDS.

A) Chúng ta khước từ và lên án những hành vi chỉ trích, thù địch và phân biệt đối xử đối với những người nhiễm HIV và mang bệnh AIDS. Đó là việc làm tội lỗi và là điều đáng hổ thẹn trong thân thể của Đấng Christ. Vì hết thảy chúng ta đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; chúng ta được cứu bởi ân điển, vì thế chúng ta nên bớt đoán xét, mau tha thứ và phục hồi mối quan hệ. Chúng ta cũng đau buồn và xót xa khi nhận ra rằng rất nhiều người nhiễm HIV không phải do lỗi của bản thân, mà do họ chăm sóc người mắc bệnh.

B) Chúng ta mong muốn các mục sư sẽ làm gương về đạo đức tính dục và lòng chung thủy, và nhắc nhở rõ ràng rằng quan hệ tính dục chỉ nên có trong hôn nhân, như Phao-lô đã dạy. Điều này là cần thiết không chỉ vì đây là sự dạy dỗ rõ ràng của Kinh Thánh, mà còn là vì thực trạng quan hệ tình dục ngoài hôn nhân ngày càng lan tràn đã trở thành một yếu tố chính góp phần vào việc lây lan HIV một cách nhanh chóng trong nhiều nước hiện bị ảnh hưởng bởi vấn nạn này.

C) Chúng ta, Hội Thánh chung trên toàn thế giới, hãy đứng lên chống lại vấn nạn này trong danh của Đấng Christ và trong năng quyền của Thánh Linh. Chúng ta hãy cùng hiệp lại với những anh chị em ở tại những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi HIV và AIDS thông qua hành động hỗ trợ thiết thực, hết lòng quan tâm (bao gồm cả việc chăm sóc người góa phụ và mồ côi), vận động xã hội-chính trị, giáo dục hiệu quả (cụ thể là những chương trình giúp ích cho nữ giới), có chiến lược phòng ngừa hiệu quả, phù hợp với bối cảnh địa phương trong việc ngăn chặn căn bệnh này.

6. Hòa bình của Đấng Christ cho cõi tạo vật đang phải chịu khổ của Ngài

Mạng lệnh của Kinh Thánh dành cho chúng ta trong mối tương quan với cõi tạo vật của Đức Chúa Trời được nêu rõ trong Cam kết Cape Town, phần 1, mục 7A. Con người phải quản trị mọi sự giàu có phong phú của cõi tạo vật tốt lành mà Đức Chúa Trời đã dựng nên. Chúng ta được phép sử dụng quyền cai trị của mình để đem lại ích lợi và đáp ứng nhu cầu cho con người, ví dụ như trồng trọt, đánh bắt cá, khai thác hầm mỏ, tạo nguồn điện, chế tạo máy móc, xây dựng, giao thương, bào chế dược phẩm. Khi thực hiện những điều này, chúng ta cũng được truyền dạy phải giữ gìn trái đất cùng muôn vật bên trong nó, bởi vì đất thuộc về Chúa, không phải thuộc về loài người. Chúng ta làm điều này vì Chúa Giê-xu Christ là Đấng sáng tạo, sở hữu, bảo tồn, cứu chuộc, kế tự muôn vật.

Chúng ta đau buồn về tình trạng lạm dụng và hủy hoại tài nguyên môi trường, bao gồm cả sự hủy hoại đa dạng sinh học, ngày càng trở nên phổ biến. Có lẽ thách thức nghiêm trọng và cấp bách nhất mà thế giới hữu hình đang đối diện là mối đe dọa biến đổi khí hậu. Dân cư ở các nước nghèo bị ảnh hưởng nhiều hơn, vì đó là nơi sự biến đổi khí hậu diễn ra khắc nghiệt và nặng nề nhất, cũng là nơi ít có khả năng thích ứng với những thay đổi đó. Nạn nghèo đói và biến đổi khí hậu cần được giải quyết chung với nhau và với cùng một mức độ cấp thiết trên thế giới.

Chúng ta khích lệ Cơ Đốc nhân trên toàn thế giới:

A) Từ bỏ lối sống tiêu dùng mang tính hủy hoại và gây ô nhiễm;

B) Dùng các phương tiện hợp pháp để thuyết phục các chính phủ đặt những nguyên tắc đạo đức lên trên lợi ích chính trị trong những vấn đề liên quan đến việc hủy hoại môi trường và nguy cơ biến đổi khí hậu tiềm ẩn;

C) Nhìn nhận, khích lệ sự kêu gọi trong công tác truyền giáo của (i) những Cơ Đốc nhân dự phần trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên của trái đất cách thích đáng cho nhu cầu và lợi ích của con người qua việc trồng trọt, sản xuất công nghiệp và bào chế dược phẩm, cũng như của (ii) những Cơ Đốc nhân dự phần vào công tác bảo vệ, phục hồi môi trường sống và các giống loài trên trái đất thông qua việc bảo tồn và vận động cho công việc này. Cả hai công tác trên có chung mục tiêu phục vụ cùng một Đấng sáng tạo, bảo tồn, và cứu chuộc.

IIC. Nếp sống bày tỏ tình yêu của Đấng Christ cho những người khác niềm tin

1. ‘Yêu kẻ lân cận như mình,’ bao gồm cả những người thuộc các tôn giáo khác

Theo quan điểm trong Cam kết Cape Town ở mục 7D, vì là môn đệ Chúa Giê-xu nên chúng ta sẽ theo lời Kinh Thánh mà xem những người khác niềm tin là những người lân cận mình. Họ được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, là những người Chúa yêu thương và đã chết thế vì tội lỗi của họ. Chúng ta không chỉ nỗ lực xem họ như là người lân cận, mà còn vâng theo sự dạy dỗ của Đấng Christ để trở nên người lân cận của họ. Chúng ta được kêu gọi trở nên nhu mì, không phải ngây thơ; trở nên có trí phân biệt, không phải cả tin; trở nên biết cảnh giác với những hiểm nguy, nhưng không để sự sợ hãi lấn át.

Chúng ta được kêu gọi rao truyền Phúc Âm, không phải dụ dỗ một người bỏ tôn giáo này theo tôn giáo khác, vì đó là một việc làm vô ích. Rao truyền Phúc Âm, bao gồm cả việc lập luận logic để thuyết phục người khác theo gương của Phao-lô, là ‘trình bày Phúc Âm cách thành thật và cởi mở, để người nghe hoàn toàn được tự do đưa ra quyết định cá nhân về điều họ đã nghe. Chúng ta ao ước trở nên cảm thông hơn đối với những người khác niềm tin, từ chối những cách thức gây áp lực cải đạo.’[67] Trái ngược với rao truyền Phúc Âm, dụ dỗ cải đạo là nỗ lực thúc ép sao cho người khác trở nên ‘người theo phe,’ ‘người đồng đạo,’ hay ‘người nhập nhóm’ với chúng ta.

A) Chúng ta cam kết sống đạo đức trong mọi công tác truyền giảng. Lời chứng của chúng ta phải thể hiện sự ‘hiền hòa và kính sợ, có lương tâm tốt.’[68] Vì vậy, chúng ta khước từ các hình thức làm chứng mang tính cưỡng bức, thiếu đạo đức, lừa lọc, thiếu tôn trọng người khác.

B) Trong danh Chúa là Đấng yêu thương, chúng ta ăn năn sự thất bại trong việc kết bạn với những người Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo cùng các tôn giáo khác. Trong Thánh Linh của Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ chủ động bày tỏ tình yêu thương, ý định tốt lành, và lòng mến khách đối với họ.

C) Trong danh Chúa là Thần lẽ thật, chúng ta (i) chống lại việc trình bày sai lệch và châm biếm các tôn giáo khác, và (ii) lên án và chống lại các định kiến, thái độ thù địch và nỗi sợ hãi mà những kẻ thủ đoạn chính trị và các kênh truyền thông gieo rắc vì lợi ích chính họ.

D) Trong danh của Chúa là Chúa bình an, chúng ta chống việc sử dụng vũ lực đối với người khác niềm tin, cũng không dùng bạo lực đáp trả bạo lực khi bị tấn công.

E) Chúng ta tin chắc rằng có không gian thích hợp những người khác niềm tin có thể đối thoại, như Phao-lô đã từng tranh luận với người Do Thái trong nhà hội và với dân ngoại tại những nơi công cộng. Việc đối thoại là một phần chính đáng trong công tác truyền giáo, đòi hỏi chúng ta vừa tôn trọng lắng nghe người khác, vừa có lòng tin quyết rằng Đấng Christ là duy nhất, Phúc Âm là lẽ thật.

2. Tình yêu thương của Đấng Christ kêu gọi chúng ta chịu khổ, hy sinh vì Phúc Âm

Chịu khổ là điều cần thiết trong việc dự phần vào sứ mạng làm chứng về Đấng Christ, như các sứ đồ trong Tân Ước và các tiên tri trong Cựu Ước đã trải qua.[69] Tinh thần vui lòng chịu khổ là sự thử nghiệm gay go nhất để xác minh tính chân thật của sứ mạng Cơ Đốc. Đức Chúa Trời có thể dùng hoạn nạn, bắt bớ và sự tuẫn đạo để thực thi sứ mạng của Ngài. ‘Tuẫn đạo là một hình thức làm chứng mà Đấng Christ đặc biệt tôn trọng.’[70] Nhiều tín hữu sống trong tiện nghi và sung túc cần được nghe lại lời kêu gọi của Đấng Christ để sẵn sàng chịu khổ cho Ngài. Hiện có nhiều tín đồ sống trong hoạn nạn, là cái giá họ phải trả để làm chứng về Chúa Giê-xu trong bối cảnh văn hóa tôn giáo không thân thiện. Họ rất có thể đã nhìn thấy những người thân yêu tuẫn đạo, đã chịu tra tấn hoặc bắt bớ vì sự trung tín của mình, thế nhưng họ vẫn tiếp tục yêu thương những người đã gây tổn hại cho mình.

A) Chúng ta lắng nghe, ghi nhớ lời chứng của những người đã phải chịu khổ vì cớ Phúc Âm trong nước mắt và trong lời cầu thay. Cùng với họ, chúng ta xin có ân điển và lòng dũng cảm để ‘yêu kẻ thù nghịch’ như Đấng Christ đã truyền dạy. Chúng ta cầu xin cho Phúc Âm được kết quả ở tại những nơi có thái độ chống nghịch sự rao giảng Tin Lành. Trong khi đau buồn về những người chịu khổ vì Tin Lành, chúng ta cũng đau xót nỗi đau mà Chúa dành cho những người chống đối tình yêu và Phúc Âm, khước từ những người Chúa đã sai đi. Chúng ta mong họ ăn năn, được tha thứ, và tìm thấy sự vui mừng do được làm hòa cùng Đức Chúa Trời.

3. Tình yêu thương qua hành động bày tỏ và tôn cao Phúc Âm của ân điển

‘Chúng ta là mùi hương của Đấng Christ.’[71] Chúng ta được kêu gọi sống và phục vụ giữa những người khác niềm tin sao cho mùi hương của ân điển Chúa thấm đẫm đến nỗi họ ngửi thấy Đấng Christ, để tìm đến, nếm trải, và biết Chúa là tốt lành. Bởi việc bày tỏ tình yêu thương, chúng ta làm cho Phúc Âm trở nên thu hút trong mọi bối cảnh văn hóa và tôn giáo. Khi yêu thương những con người khác niềm tin qua đời sống yêu thương và hành động phục vụ, các Cơ Đốc nhân bày tỏ ân điển Chúa biến đổi cuộc sống con người.

Trong những nền văn hóa ‘coi trọng danh dự,’ nơi mà danh dự và việc báo thù được kể là hợp pháp theo tôn giáo, ‘ân điển’ là một khái niệm hoàn toàn lạ lẫm. Trong những trường hợp đó, tình yêu thương hy sinh, quên mình của Chúa không được bàn đến bởi vì đó là khái niệm xa lạ, thậm chí là đáng khinh. Tại đây, ân điển là một sự nếm trải có giá cao, với những liều lượng nhỏ trải đều trong một thời gian dài cho những ai đói khát và can đảm nếm thử. Mùi hương của Đấng Christ sẽ dần lan tỏa qua những gì mà các môn đồ của Ngài tiếp xúc.

A) Chúng ta mong mỏi Chúa dấy lên ngày càng nhiều những người nam người nữ được ơn sẵn lòng cam kết lâu dài trong việc sống, yêu thương và phục vụ ở những nơi khó khăn bị các tôn giáo khác kiểm soát, chịu sự nguy hiểm để đem hương vị ân điển của Chúa Giê-xu vào trong những nền văn hóa không hoan nghênh Cơ Đốc giáo. Điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn và khả năng chịu đựng đôi khi kéo dài cả cuộc sống, chỉ chấm dứt khi qua đời.

4. Tình yêu thương tôn trọng sự đa dạng trong công tác môn đệ hóa

Các phong trào ‘người Cơ Đốc trong tôn giáo khác’ tồn tại trong nhiều tôn giáo. Đây là những nhóm tin rằng Chúa Giê-xu là Chúa và là Cứu Chúa của mình. Họ gặp nhau trong các nhóm nhỏ để thông công, dạy dỗ, thờ phượng và cầu nguyện lấy trọng tâm là Chúa Giê-xu và Kinh Thánh trong khi vẫn tiếp tục sống trong bối cảnh văn hóa xã hội tại nơi cộng đồng mà họ sinh trưởng, bao gồm luôn cả những yếu tố tôn giáo mà họ phải tuân giữ. Đây là một trường hợp khá phức tạp và các Cơ Đốc nhân không cùng chung tiếng nói về giải pháp. Một số người ủng hộ, số khác cho rằng đây là hiểm họa pha trộn tôn giáo. Tuy nhiên, sự pha trộn tôn giáo là rủi ro có thể được tìm thấy ở bất cứ nơi nào khi các Cơ Đốc nhân tìm cảnh bày tỏ niềm tin theo bối cảnh văn hóa địa phương. Tuy nhiên, khi nhìn thấy Chúa hành động theo những phương cách mà chúng ta không ngờ tới, thì chúng ta cần tránh đi khuynh hướng (i) vội vàng xác nhận và phổ biến nó như một chiến lược truyền giáo mới, hay (ii) vội lên án mà không xem xét kỹ lưỡng bối cảnh của nó.

A) Trong tinh thần của Ba-na-ba, là người khi đến An-ti-ốt, ‘thấy ơn Đức Chúa Trời bèn vui mừng và khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa’[72] chúng ta nên trình bày với tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này như sau:

1. Hãy để nguyên tắc định hướng chính của mình như điều mà các sứ đồ đã quyết định và thực hành: ‘thật chẳng nên khuấy rối những người ngoại trở về cùng Đức Chúa Trời.’[73]

2. Thể hiện tinh thần khiêm nhường, kiên nhẫn, và khoan dung trong việc nhận ra sự đa dạng về quan điểm và tiến hành đối thoại và tránh đi sự cãi lẫy và lên án lẫn nhau.[74]

5. Tình yêu thương giúp đỡ những người bị tản lạc

Con người ngày nay di chuyển từ nơi này sang nơi khác nhiều hơn bao giờ hết. Di cư là một trong những vấn đề thực tế đang diễn ra trên thế giới trong thời đại của chúng ta. Ước tính có đến 200 triệu người đang sống bên ngoài quê hương của họ, bao gồm cả di cư tự nguyện lẫn ngoài ý muốn. Thuật ngữ ‘xa quê hương’ được dùng ở đây chỉ về những người phải rời khỏi quê hương của mình để đi đến một nơi khác vì một lý do nào đó. Một số ra đi vĩnh viễn, còn số khác, ví dụ như ba triệu sinh viên và học giả quốc tế, thì chỉ mang tính tạm thời. Một số lượng lớn người từ nhiều tôn giáo khác nhau, bao gồm cả những Cơ Đốc nhân, hiện đang sống trong tình trạng ‘xa quê hương’: di cư vì kinh tế đi tìm kiếm việc làm; di cư vì chiến tranh hay thiên tai; di cư để xin tị nạn và tìm kiếm nơi để tị nạn; di cư vì là nạn nhân của phân biệt chủng tộc; di cư vì gặp bắt bớ và bạo lực tôn giáo; di cư vì nạn đói kém do hạn hán, lũ lụt hay chiến tranh; di cư vì nghèo phải bỏ nông thôn ra thành thị. Chúng ta tin rằng sự di cư nằm trong ý muốn Chúa cho công tác truyền giáo, dầu vậy chúng ta cũng không phớt lờ đi những điều ác điều ác và sự đau khổ hay đi liền với hiện tượng di cư.[75]

A) Chúng ta kêu gọi Hội Thánh và các lãnh đạo truyền giáo nhìn nhận và có giải pháp truyền giáo trước những cơ hội mà sự di cư toàn cầu và các cộng đồng ‘xa quê hương’ đang đem đến, lập kế hoạch chiến lược, tập trung huấn luyện, và cung ứng nhu cầu để những người được kêu gọi ra đi truyền giáo cho người di cư có thể làm tốt công tác của họ.

B) Chúng ta khích lệ người Cơ Đốc ở các nước sở tại vượt qua rào cản văn hóa để làm chứng về tình yêu thương của Đấng Christ trong lời nói cũng như hàng động cho các cộng đồng dân nhập cư và những sinh viên, học giả quốc tế thuộc những tôn giáo khác. Việc đó tuân theo những điều răn lớn trong Kinh Thánh: thương xót khách lạ, bênh vực duyên cớ kẻ ngoại bang, thăm viếng kẻ bị tù đày, ân cần tiếp đãi, gây dựng tình bằng hữu, tiếp rước, chu cấp sự cần dùng, và giúp đỡ họ.[76]

C) Chúng ta kêu gọi các tín hữu thuộc về những cộng đồng ‘xa quê hương’ nhận biết bàn tay của Chúa, thậm chí là trong những cảnh ngộ họ đã không chọn lấy cho mình, tìm kiếm cơ hội Chúa đưa đến để làm chứng về Đấng Christ cho cộng đồng sở tại và tìm kiếm điều ích lợi cho vùng đất họ đang sinh sống.[77] Khi quốc gia sở tại cũng có Hội Thánh, chúng ta kêu gọi người nhập cư và các Hội Thánh của người bản xứ hãy lắng nghe và học tập lẫn nhau, cùng khởi xướng những nỗ lực hợp tác để đem Tin Lành đến mọi nơi trên quốc gia đó.

6. Tình yêu thương quan tâm đến tự do tôn giáo cho mọi người

Đề cao nhân quyền qua việc bảo vệ tự do tôn giáo không mâu thuẫn với việc chọn đi con đường thập giá khi đối diện với sự bắt bớ. Không hề có sự mâu thuẫn nào giữa việc cá nhân sẵn lòng chịu ngược đãi hay bỏ đi những quyền lợi của bản thân vì cớ Đấng Christ và việc cam kết bênh vực cũng như biện hộ cho những người không có tiếng nói khi nhân quyền của họ bị vi phạm. Chúng ta cần phân biệt giữa việc biện hộ cho những quyền lợi của người thuộc các tôn giáo khác với việc tán thành chân lý theo tín ngưỡng của họ. Việc chúng ta bảo vệ quyền tự do của người khác trong việc lựa chọn và thực hành tôn giáo của họ không đồng nghĩa với việc chúng ta chấp nhận tôn giáo của họ là chân lý.

A) Chúng ta hãy đấu tranh cho mục tiêu tự do tôn giáo cho mọi người. Điều này đòi hỏi việc thay mặt cho Cơ Đốc nhân và những người thuộc các tôn giáo khác hiện đang bị bắt bớ, biện hộ cho họ trước các chính quyền.

B) Chúng ta hãy làm trọn sự dạy dỗ của Kinh Thánh về việc là những công dân tốt, tìm kiếm điều ích lợi cho quốc gia mình đang sống, tôn trọng và cầu nguyện cho nhà cầm quyền, đóng thuế đầy đủ, làm việc lành và gắng sức để sống cách hòa bình và yên ổn. Cơ Đốc nhân được kêu gọi phải vâng phục nhà cầm quyền, trừ khi nhà cầm quyền yêu cầu những điều mà Chúa cấm, hay cấm đoán những điều Chúa truyền phải tuân giữ. Nếu nhà cầm quyền ép buộc chúng ta phải chọn lựa giữa việc trung thành với nhà cầm quyền và việc trung tín với Chúa, thì chúng ta sẽ nói Không với nhà cầm quyền vì đã nói Xin Vâng với Đức Chúa Giê-xu Christ.[78]

Giữa những nỗ lực chính đáng của chúng ta trong việc đấu tranh cho tự do tôn giáo cho mọi người, thì niềm ao ước sâu xa nhất trong đáy lòng của chúng ta vẫn luôn là việc mọi người được biết đến Đức Chúa Giê-xu Christ, tự do đặt niềm tin ở nơi Ngài và được cứu cũng như được bước vào trong vương quốc của Đức Chúa Trời.

IID. Nhìn biết ý muốn của Đấng Christ cho công tác truyền giáo thế giới

1. Những người chưa được nghe và tiếp xúc với Phúc Âm

Đức Chúa Trời mong muốn mọi người biết về tình yêu và sự cứu chuộc của Ngài qua Chúa Giê-xu. Chúng ta đau xót thừa nhận vẫn còn hàng ngàn sắc tộc trên khắp thế giới chưa biết đến Chúa thông qua công tác truyền giáo của người Cơ Đốc. Đó là những người chưa được nghe đến Phúc Âm, không có bất kỳ một tín hữu nào hay Hội Thánh nào xung quanh nơi họ sinh sống. Rất nhiều sắc tộc trong số đó cũng chưa từng tiếp xúc với Phúc Âm, nghĩa là hiện tại không có bất kỳ Hội Thánh hay cơ quan truyề giáo nào đang nỗ lực đem Phúc Âm đến với họ. Thật sự, chỉ một phần rất nhỏ trong số những nguồn nhân lực và tài lực của Hội Thánh được dùng vào việc tiếp cận những sắc dân ít được biết đến. Trên thực tế, đây là nhữngngười sẽ không bao giờ mời chúng ta đến chia sẻ Tin Lành, bởi vì họ không hề biết gì về Tin Lành. Sự hiện hữu của họ ở giữa chúng ta trong thế giới này sau khi Chúa Giê-xu đã truyền mạng lệnh môn đệ hóa muôn dân vào hơn 2,000 năm trước không chỉ là lời cáo trách sự thiếu vâng phục của chúng ta, cũng không chỉ là một hình thức bất công thuộc linh, nhưng còn là một sự im lặng trước ‘lời kêu cầu của người Ma-xê-đoan.’

Chúng ta, Hội Thánh chung trên toàn thế giới, hãy dấy lên để đáp ứng lại trước công tác đầy thách thức này, và:

A) Ăn năn về sự thiếu nhận thức trước sự tồn tại của biết bao dân tộc chưa được nghe đến Phúc Âm và sự trễ nãi của chúng ta trong việc chia sẻ Tin Lành.

B) Làm mới lại cam kết của chúng ta trong việc tìm đến những con người chưa từng nghe Phúc Âm, gắn bó cách sâu sắc với ngôn ngữ và văn hóa của họ, sống bày tỏ Phúc Âm ở giữa họ bằng cách sống yêu thương và hy sinh phục vụ, nhằm truyền đạt sự sáng và lẽ thật của Đức Chúa Giê-xu Christ qua lời nói lẫn việc làm, để thức tỉnh họ đến với ân điển lạ lùng của Đức Chúa Trời bởi năng quyền của Đức Thánh Linh.

C) Hướng đến việc xóa bỏ tình trạng nghèo thiếu Lời Chúa trên thế giới, vì Kinh Thánh vẫn luôn là nhân tố thiết yếu cho hoạt động truyền giáo. Để làm được điều này chúng ta phải:

1. Mau chóng biên dịch Kinh Thánh sang các ngôn ngữ của các sắc dân chưa từng có bất kỳ một phần nào của Kinh Thánh trong tiếng mẹ đẻ của họ;

2. Phổ biến sứ điệp của Kinh Thánh cách rộng rãi thông qua ngôn ngữ nói (tham khảo thêm phần “Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói” bên dưới).

D) Hướng đến việc xóa bỏ tình trạng thiếu hiểu biết Lời Chúa trong Hội Thánh, vì Kinh Thánh là nhân tố thiết yếu rèn tập Cơ Đốc nhân trở nên giống với Đấng Christ càng hơn.

1. Chúng ta mong mỏi nhìn thấy sự tái xác quyết trong tất cả các Hội Thánh của Chúa về tầm quan trọng thiết yếu của việc dạy dỗ Lời Chúa cho sự phát triển mục vụ, hiệp một, và trưởng thành của Hội Thánh.[79] Chúng ta vui mừng về ân tứ của những người Đấng Christ đã ban cho Hội Thánh trong vai trò mục sư-giáo sư. Chúng ta hết sức nỗ lực tìm kiếm, khích lệ, đào tạo và hỗ trợ họ trong việc giảng và dạy Lời Chúa. Tuy nhiên, để làm được như vậy, chúng ta cần từ bỏ chủ nghĩa giáo quyền cho rằng chỉ một số ít người có chuyên môn và được trả lương mới có thể dạy dỗ Lời Chúa, hoặc cho rằng Lời Chúa chỉ có thể được rao ra thông qua các tòa giảng trong các nhà thờ chính thống. Rất nhiều người nam và người nữ rõ ràng có ơn trong việc chăn bầy và dạy dỗ, đã sử dụng ân tứ của mình mà không thuộc về bất kỳ tổ chức hệ phái nào, và công việc của họ cho thấy có sự chúc phước của Thánh Linh. Họ là những người cần được công nhận, khích lệ, và trang bị để có thể chia sẻ Lời Chúa ngày càng tốt hơn.

2. Chúng ta cần đẩy mạnh việc đọc Kinh Thánh đối với một thế hệ mới đã quen thuộc với truyền thông kỹ thuật số hơn là sách in bằng giấy, cần có những phương tiện học Kinh Thánh quy nạp thông qua kỹ thuật số ở mức độ sâu sắc ngang với các tài liệu sách in và giấy bút hiện có.

E) Chúng ta hãy đặt truyền giáo làm trọng tâm trong mọi công tác của mình, cũng giống như Phúc Âm là nguồn cội, là nội dung, và là thẩm quyền của mọi sứ mạng Cơ Đốc xứng hiệp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Tất cả những gì chúng ta làm phải là hiện thân và là lời công bố về tình yêu và ân điển của Chúa, cũng như công tác cứu rỗi của Ngài qua Chúa Giê-xu.

2. Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói

Phần đông dân số thế giới giao tiếp bằng ngôn ngữ nói. Có nhiều người không thể hay chưa hề học qua chữ viết, và hơn một nửa trong số đó nằm trong nhóm những người chưa được nghe đến Phúc Âm. Trong số này, ước tính có đến 350 triệu người không hề có một câu Kinh Thánh nào đã được dịch sang ngôn ngữ của họ. Thêm vào nhóm người học qua giao tiếp bằng ngôn ngữ nói là chủ yếu, vẫn có rất nhiều người biết đọc và viết nhưng ưa thích sự giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, hiện đang phát triển nhờ sự lên ngôi của phương pháp học trực quan và sử dụng nhiều hình ảnh để truyền đạt thông tin.

Vì công nhận và tìm cách đáp ứng những nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, chúng ta hãy:

A) Tận dụng tối đa những phương pháp dùng ngôn ngữ nói trong các chương trình môn đệ hóa, thậm chí trong vòng những tín hữu biết đọc và biết viết.

B) Ưu tiên việc biên dịch và phổ biến câu chuyện Thánh Kinh dưới dạng một truyện tích có thể kể bằng ngôn ngữ nói của những sắc dân chưa được nghe và tiếp xúc với Phúc Âm.

C) Kêu gọi các cơ quan truyền giáo phát triển những chiến lược giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, bao gồm: thu âm và phát hành những câu chuyện Kinh Thánh cho việc truyền giảng, môn đệ hóa và đào tạo lãnh đạo; trang bị kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói cho những nhà truyền giáo và người mở Hội Thánh tiên phong, là những người có thể tận dụng những phương pháp giao tiếp bằng lời và truyền thông trực quan hiệu quả để đưa câu chuyện cứu rỗi của Kinh Thánh đến người cần nghe thông qua truyện kể, vũ đạo, tranh ảnh, thi phú, lời nhạc, và kịch nghệ.

D) Kêu gọi các Hội Thánh địa phương ở Nam bán cầu tiếp cận những nhóm sắc tộc chưa được nghe đến Phúc Âm trong khu vực của họ thông qua những phương pháp giao tiếp bằng ngôn ngữ nói hợp lý.

E) Kêu gọi các chủng viện cung ứng chương trình học trang bị cho mục sư và giáo sĩ những phương pháp giao tiếp bằng ngôn ngữ nói hiệu quả.

3. Những lãnh đạo đặt Đấng Christ làm trung tâm

Sự tăng trưởng nhanh chóng của Hội Thánh ở nhiều nơi vẫn còn cạn cợt và yếu ớt, một phần do thiếu lãnh đạo trưởng thành, một phần do nhiều lãnh đạo lạm dụng chức vụ để thu vén quyền lực, địa vị và sự giàu có cho cá nhân. Kết quả là dân sự Chúa phải chịu khổ, Đấng Christ bị hạ thấp và sứ mạng rao truyền Phúc Âm bị suy yếu. ‘Đào tạo lãnh đạo’ thường là giải pháp được đưa ra với ưu tiên hàng đầu. Trên thực tế, nhiều chương trình đào tạo lãnh đạo đã được nhân rộng, nhưng nan đề vẫn tồn tại vì hai lý do.

Thứ nhất, đào tạo lãnh đạo tiềm năng sao cho họ trở nên tin kính và giống Đấng Christ là hướng đi ngược sai lầm. Theo Kinh Thánh, chỉ những người đã có đời sống bày tỏ ra những phẩm chất của một người môn đệ trưởng thành mới được chỉ định để lập làm người lãnh đạo.[80] Ngày nay, nếu chúng ta gặp phải nhiều lãnh đạo chưa thật sự được môn đệ hóa, thì rõ ràng chúng ta không còn cách nào khác hơn là phải có cả nội dung môn đệ hóa căn bản trong các chương trình phát triển lãnh đạo. Có thể nói tỉ lệ của những lãnh đạo không giống với Đấng Christ và thế tục trong Hội Thánh trên toàn thế giới hiện tại là bằng chứng rõ ràng của việc nhiều thế hệ chỉ tập trung vào công tác truyền giảng khiến cho công tác môn đệ hóa bị bỏ bê và sự tăng trưởng trở nên cạn cợt. Câu trả lời cho sự thất bại trong khía cạnh đào tạo lãnh đạo không phải là việc tổ chức thêm nhiều chương trình đào tạo lãnh đạo nữa, nhưng phải là những chương trình môn đệ hóa có chất lượng hơn. Lãnh đạo trước tiên phải là người môn đệ của Đấng Christ.

Thứ nhì, một số chương trình đào tạo lãnh đạo tập trung vào kiến thức, phương pháp và kỹ năng rập khuôn nhưng lại phớt lờ đi đời sống phẩm hạnh tin kính. Những lãnh đạo Cơ Đốc thật phải là người giống Đấng Christ trong tinh thần tôi tớ, khiêm nhường, chánh trực, thánh sạch, không tham lam, có đời sống cầu nguyện, nương cậy nơi Thánh Linh và có lòng thương yêu người khác sâu sắc. Hơn thế nữa, một số chương trình đào tạo lãnh đạo hoàn toàn thiếu trang bị khả năng chìa khóa mà Phao-lô đã bao gồm trong danh sách những phẩm chất cần có, đó là khả năng dạy dỗ Lời Chúa cho dân sự của Ngài. Dạy Kinh Thánh là phương tiện quan trọng nhất trong việc đào tạo môn đệ, thế nhưng nó lại là điểm yếu nhất của các lãnh đạo Hội Thánh hiện nay.

A) Chúng ta mong mỏi nhìn thấy những nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa trong việc đào tạo môn đệ, thông qua công tác dài hạn trong việc dạy dỗ và chăm sóc các tân tín hữu, để những người Chúa kêu gọi và ban cho Hội Thánh trong vai trò lãnh đạo sẽ thật sự hội đủ tư cách theo những tiêu chí Kinh Thánh về sự trưởng thành và tinh thần phục vụ.

B) Chúng ta làm mới lại sự cam kết cầu thay cho các lãnh đạo. Chúng ta mong mỏi Chúa sẽ nhân lên, bảo vệ, và khích lệ các lãnh đạo trung tín và vâng phục theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Chúng ta cầu xin Chúa quở trách, loại đi, hay đem lại sự ăn năn cho các lãnh đạo làm ô danh Chúa và khiến cho Phúc Âm mang tiếng xấu. Xin Chúa dấy lên một thế hệ lãnh đạo mới là môn đệ có tinh thần phục vụ, có khao khát biết Đấng Christ và trở nên giống như Ngài hơn tất cả mọi điều khác.

C) Những lãnh đạo Cơ Đốc cần phải nhận ra sự yếu đuối của mình và đón nhận trách nhiệm giải trình trước thân thể của Đấng Christ như là một món quà. Chúng ta cần cổ động việc các lãnh đạo phải chịu trách nhiệm giải trình trước một nhóm người cụ thể.

D) Chúng ta hết sức kêu gọi các chủng viện và những tổ chức cung cấp các chương trình đào tạo lãnh đạo không chỉ đơn thuần làm công việc truyền đạt kiến thức hay đánh giá thành tích học tập mà còn là nơi tập trung nhiều vào việc định hình phẩm hạnh và đời sống thuộc linh. Chúng ta hết lòng vui mừng vì một số nơi đã áp dụng điều này vào chương trình phát triển người lãnh đạo toàn diện.

4. Thành thị

Thành thị đặc biệt quan trọng đối với tương lai của nhân loại và với công tác truyền giáo thế giới. Một nửa dân số thế giới hiện nay đang sống trong các thành phố. Thành thị là nơi bốn nhóm người chính yếu thường được tìm thấy: đó là (i) thế hệ trẻ tiếp theo; (ii) những sắc tộc chưa nghe Phúc Âm vừa di cư đến; (iii) những người có ảnh hưởng định hướng văn hóa; (iv) những người nghèo nhất trong số người nghèo.

A) Chúng ta nhìn biết bàn tay chủ tể của Chúa trong sự đô thị hóa gia tăng trong thời hiện tại, và chúng ta kêu gọi Hội Thánh và những lãnh đạo truyền giáo thế giới đáp ứng lại với thực tế này bằng sự quan tâm mang tính chiến lược cấp bách cho công tác truyền giáo thành thị. Chúng ta phải yêu thương thành thị như Chúa yêu thương, với sự nhạy bén phân biệt và lòng thương xót thánh của Đấng Christ, tuân giữ mạng lệnh ‘tìm cầu sự bình an thịnh vượng cho thành thị’ dù ở bất cứ đâu. Chúng ta sẽ tìm kiếm những phương pháp phù hợp và linh hoạt để công tác truyền giáo đáp ứng tốt với thực tế đô thị.

5. Trẻ em

Cuộc sống trẻ em đối diện nhiều nguy cơ. Có khoảng hai tỉ trẻ em trên thế giới và một nửa trong số đó đang sống trong nghèo đói. Hàng triệu em khác gặp nguy hiểm vì thừa mứa. Trẻ em trong gia đình giàu có và ổn định có đầy đủ vật chất, nhưng có thể thiếu mục đích sống.

Trẻ em và giới trẻ là Hội Thánh hôm nay, chứ không chỉ là của ngày mai. Giới trẻ có tiềm năng to lớn để trở nên những nhân tố tích cực cho sứ mạng Cơ Đốc. Họ đại diện cho những người có ảnh hưởng lớn nhưng chưa được sử dụng, có sự nhạy cảm trước tiếng phán của Chúa và sẵn lòng đáp ứng với Ngài. Chúng ta vui mừng vì những mục vụ tuyệt vời đang được thực hiện cho và với trẻ em, mong mỏi những công tác như vậy sẽ được nhân lên bởi vì nhu cầu vẫn còn rất lớn. Như chúng ta thấy trong Kinh Thánh, Chúa có thể và Ngài chắc chắc sử dụng những con trẻ và giới trẻ – những lời cầu thay, những hiểu biết, ngôn từ và tính chủ động của trẻ em – để thay đổi những tấm lòng. Trẻ em đại diện cho ‘nguồn năng lượng mới’ để biến đổi thế gian. Xin chúng ta hãy lắng nghe và đừng làm suy yếu đời sống thuộc linh trẻ thơ bằng những phương cách tiếp cận duy lý của người lớn.

Chúng ta cam kết sẽ:

A) Coi trọng trẻ em, qua việc làm mới lại sự hiểu biết Kinh Thánh và thần học phản ánh tình yêu thương và mục đích của Chúa dành cho chúng và thông qua chúng, và qua việc tái khám phá ý nghĩa sâu sắc của hành động đầy thách thức của Chúa Giê-xu khi Ngài ‘đem một em bé để đứng giữa các môn đệ’[81] đối với thần học và công tác truyền giáo.

B) Đeo đuổi việc đào tạo con người cung ứng những nguồn lực để đáp ứng nhu cầu của trẻ em trên toàn thế giới, ở bất cứ đâu có cơ hội làm việc với gia đình và cộng đồng của chúng, với lòng tinh quyết rằng mục vụ toàn diện cho và qua mỗi một thế hệ trẻ em và giới trẻ mới là một phần thiết yếu trong công tác truyền giáo thế giới.

C) Phơi bày, bài trừ và ra sức chống lại mọi hình thức lạm dụng trẻ em, bao gồm bạo lực, bóc lột, nô dịch, mua bán, tình dục, phân biệt giới tính và chủng tộc, mục tiêu thương mại và cố ý bỏ mặc.

6. Cầu nguyện

Giữa tất cả những ưu tiên trên, chúng ta hãy tái cam sẽ cầu nguyện. Cầu nguyện là một sự kêu gọi, một mạng lệnh, cũng là một ân tứ. Cầu nguyện là nền tảng không thể thiếu và là nguồn nuôi dưỡng mọi thành phần của sứ mạng Cơ Đốc.

A) Chúng ta sẽ cầu nguyện trong sự hiệp một, tập trung, kiên trì, và rõ ràng dựa trên nền tảng Kinh Thánh:

1. Xin Chúa sai con gặt đến khắp mọi nơi trong năng quyền Thánh Linh;

2. Xin cho những người và nơi chốn hư mất được kéo đến gần Chúa bởi Thánh Linh, qua sự công bố lẽ thật Phúc Âm cùng sự bày tỏ tình thương và năng quyền của Đấng Christ;

3. Cầu xin vinh quang Chúa được tỏ ra và danh Chúa được biết đến và ngợi khen qua phẩm hạnh, việc lành, và lời nói của dân sự Ngài. Chúng ta cũng kêu cầu cho những anh chị em đang phải chịu khổ vì danh Chúa.

4. Cầu xin nước Chúa được đến, ý muốn Ngài được nên trên đất cũng như trên trời, sự công bình được thiết lập, cõi tạo vật được quản trị và chăm sóc tốt, các cộng đồng dân cư được ban phước bình an của Chúa.

B) Chúng ta sẽ tiếp tục dâng lời tạ ơn khi nhìn thấy công việc Chúa giữa các nước, trông đợi cho đến ngày vương quốc thế gian trở nên vương quốc của Chúa và của Đấng Christ.

IIE. Kêu gọi Hội Thánh theo đuổi lối sống khiêm nhường, chánh trực, và đơn giản

Bước đi là một cách nói ẩn dụ của Kinh Thánh chỉ về lối sống lẫn hành vi hàng ngày của chúng ta. Trong thư Ê-phê-sô, có đến bảy lần Phao-lô nói đến cách bước đi mà Cơ Đốc nhân nên và không nên có. [82]

1. Sống khác biệt, như một người mới trong Chúa[83]

Dân sự Chúa chỉ có thể bước đi trong đường lối Chúa, hoặc đường lối các thần giả. Kinh Thánh cho thấy nan đề lớn nhất của Chúa không phải với các nước của thế gian, nhưng với dân sự mà Ngài đã tạo dựng và kêu gọi trở thành nguồn phước cho muôn dân. Rào cản lớn nhất cho việc làm tròn sứ mạng đó chính là sự thờ hình tượng của dân sự Chúa. Nếu chúng ta được kêu gọi để đem các quốc gia đến với sự thờ phượng Chân Chúa hằng sống, nhưng chính mình lại chạy theo các thần giả xung quanh, thì chắc chắn chúng ta sẽ thất bại.

Khi không có sự khác biệt trong lối sống giữa Cơ Đốc nhân với người chưa tin Chúa – ví dụ như nhận hối lộ, tham lam, tình dục bừa bãi, ly hôn, mê tín dị đoan, cư xử hẹp hòi với người khác chủng tộc, sống buông thả, hoặc chạy theo định kiến xã hội – thì thế gian hoàn toàn đúng khi cho rằng liệu Cơ Đốc giáo có làm nên điều gì khác biệt hay không. Khi đó sứ điệp Cơ Đốc sẽ không còn đáng tin cậy trong mắt người thế gian.

A) Dân sự Chúa trong mọi nền văn hóa phải kêu gọi nhau cùng đối diện với nan đề chúng ta dễ bị cuốn vào việc thờ phượng các thần giả, dù muốn hay không. Chúng ta cầu xin sự phân biệt như các tiên tri thuở xưa để nhận diện và phơi bày các thần giả hiện diện trong Hội Thánh, và cầu xin lòng can đảm để ăn năn và từ bỏ những theo đuổi sai trật trong danh và thẩm quyền Chúa Giê-xu.

B) Không có sứ mạng Cơ Đốc nào lại không đi đôi với lối sống theo Kinh Thánh, chúng ta khẩn thiết tái cam kết bản thân, và kêu gọi những người xưng danh Đấng Christ hãy sống triệt để khác biệt với đường lối của thế gian, ‘mặc lấy con người mới, là con người được tạo dựng giống như hình ảnh của Ðức Chúa Trời trong sự công bình và thánh khiết thật.’

2. Bước đi trong tình yêu, từ chối tình dục ngoài hôn nhân[84]

Trật tự hôn nhân do Chúa thiết lập được kết thành bởi mối liên hệ cam kết, chung thủy giữa người nam và người nữ, trong đó họ trở nên một, và là một đơn vị xã hội mới tách biệt khỏi gia đình gốc của họ. Quan hệ tình dục là sự bày tỏ tính chất ‘nên một’ chỉ trong mối quan hệ hôn nhân mà thôi. Sự hiệp nhất của tình yêu và tính dục trong hôn nhân, qua đó ‘hai trở nên một,’ phản chiếu cả mối liên hệ giữa Đấng Christ với Hội Thánh lẫn sự hiệp nhất giữa người Do Thái với dân ngoại trong Chúa.[85]

Phao-lô mô tả nét tương phản giữa sự thánh sạch của tình yêu thương của Chúa với sự xấu xí của tình yêu giả tạo bên dưới tình dục ngoài hôn nhân và mọi điều khác đi cùng với nó. Mọi sự gần gũi thể xác trước hay ngoài hôn nhân theo như Kinh Thánh định nghĩa, đều trật khỏi ý muốn, ơn phước, và sự cứu chuộc của Chúa dành cho cõi tạo vật. Việc lạm dụng và chấp thuận tình dục ngoài hôn nhân góp phần vào sự xuống dốc của xã hội, làm đổ vỡ hôn nhân và gia đình, và tạo ra sự đau khổ của tình trạng cô đơn và lạm dụng. Đây là một nan đề nghiêm trọng trong Hội Thánh, là nguyên nhân phổ biến làm nhiều người lãnh đạo Cơ Đốc thất bại trong chức vụ.

Chúng ta nhận biết nhu cầu phải khiêm nhường và ý thức sâu sắc về sự thất bại trong lãnh vực này. Chúng ta mong mỏi nhìn thấy các Cơ Đốc nhân có thể đi ngược lại môi trường văn hóa xung quanh bằng cách sống theo những tiêu chuẩn mà Kinh Thánh kêu gọi chúng ta.

A) Chúng ta mạnh mẽ kêu gọi tất cả những mục sư:

1. Tạo điều kiện để có những trao đổi cởi mở hơn về quan hệ tính dục trong các Hội Thánh, công bố cách tích cực Tin Lành về chương trình của Đức Chúa Trời định cho những mối liên hệ lành mạnh và đời sống gia đình, nhưng đồng thời cũng thành thật đề cập đến những đổ vỡ và sai trật mà chúng ta nhìn thấy cả bên trong và bên ngoài Hội Thánh với tinh thần gây dựng của người chăn bầy;

2. Dạy dỗ những tiêu chuẩn của Chúa cách rõ ràng, thực hiện điều này với lòng thương xót của Đấng Christ đối với tội nhân, nhận thức sự yếu đuối của tất cả chúng ta trước sự cám dỗ của tình dục và tội lỗi;

3. Nỗ lực làm gương tốt qua việc sống theo những tiêu chuẩn của Kinh Thánh về tình dục và hôn nhân;

B) Là những thành viên của Hội Thánh, chúng ta cam kết:

1. Làm mọi điều có thể trong Hội Thánh và trong cộng đồng nhằm làm cho vững mạnh thêm sự chung thủy và đời sống lành mạnh của các gia đình;

2. Công nhận sự hiện diện và đóng góp của những người độc thân, góa bụa hay không có con, phải chắc rằng Hội Thánh là một gia đình trong Đấng Christ, luôn chào đón, nâng đỡ, và giúp đỡ mọi thành viên sử dụng những ân tứ của họ trong các mục vụ của Hội Thánh;

3. Chống lại việc ngoại tình, quan hệ tình dục bừa bãi, và sử dụng sách báo khiêu dâm;

4. Nỗ lực để có thể tìm cách hiểu và giải quyết những vấn đề quan trọng có liên quan đến giới tính và kinh nghiệm sống của những người có quan hệ đồng tính, kết nối với họ bằng tình yêu thương, lòng thương xót, và sự công bình của Đấng Christ, đồng thời từ bỏ và lên án tất cả những sự kỳ thị, trong cả hành vi lẫn lời nói, và ngược đãi người có xu hướng đồng tính;

5. Ghi nhớ rằng không một con người hay hoàn cảnh sống nào vượt quá khả năng biến đổi và phục hồi bởi ân điển cứu chuộc của Chúa.

3. Bước đi trong sự khiêm nhường, từ chối sùng bái quyền lực[86]

Trong sự sa ngã và phạm tội, người ta dùng quyền lực để lạm dụng và bóc lột người khác. Chúng ta có tính tự tôn, cho rằng giới tính, sắc tộc, hay địa vị xã hội của mình là hơn người khác. Phao-lô chống lại những dấu hiệu sùng bái quyền lực và kiêu ngạo này bằng lời kêu gọi những ai đầy dẫy Thánh Linh phải vâng phục nhau vì cớ Đấng Christ. Sự vâng phục và yêu thương lẫn nhau phải được thể hiện trong quan hệ hôn nhân, gia đình và kinh tế-xã hội.

A) Chúng ta trông mong các Cơ Đốc nhân trong cương vị là vợ chồng, cha mẹ, con cái, người làm chủ, và người làm công đều sống theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, ‘kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau.’

B) Chúng ta kêu gọi các mục sư giúp đỡ tín hữu hiểu biết, thành thật trao đổi, và thực hành sự vâng phục lẫn nhau mà Chúa đòi hỏi nơi con cái của Ngài trong cách cư xử với nhau. Trong thế giới đầy sự tham lam và lạm dụng quyền lực, Đức Chúa Trời kêu gọi Hội Thánh trở nên một nơi mà các thành viên có đầy sự nhu mì mềm mại và yêu thương quên mình.

C) Chúng ta kêu gọi cách đặc biệt những người chồng Cơ Đốc tuân giữ sự cân bằng trong các trách nhiệm mà Phao-lô đã dạy dỗ về bổn phận vợ chồng. Sự vâng phục lẫn nhau có nghĩa là người vợ vâng phục một người chồng biết yêu thương và chăm sóc vợ theo khuôn mẫu tình yêu hy sinh quên mình của Đấng Christ đối cùng Hội Thánh. Bất cứ hình thức bạo lực nào đối với vợ – dù trong lời nói, thái độ hay hành vi – đều không xứng hiệp với tình yêu thương của Đấng Christ trong mọi nền văn hóa. Không thể dùng bất cứ phong tục văn hóa hay cách giải nghĩa Kinh Thánh nào mà có thể bào chữa cho việc bạo hành trong hôn nhân. Chúng ta biết bạo lực gia đình vẫn còn diễn ra trong vòng tín hữu Cơ Đốc, trong cả các gia đình mục sư và lãnh đạo Cơ Đốc. Chúng ta không ngần ngại lên án, kêu gọi ăn năn và từ bỏ hành vi tội lỗi này.

4. Bước đi trong sự chánh trực, từ chối sùng bái thành công[87]

Chúng ta không thể xây dựng vương quốc của Đức Chúa Trời của lẽ thật dựa trên nền tảng của sự dối trá. Thế nhưng, lòng khao khát ‘thành công’ và ‘kết quả’ đã khiến chúng ta bị cám dỗ hy sinh sự chánh trực của mình, thay vào đó là những lời tuyên bố méo mó và phóng đại, thực chất là những lời dối trá, về các kết quả mục vụ. Tuy nhiên, việc bước đi trong sự sáng thì lại cần ‘ở tại mọi điều… công bình và chánh trực.’[88]

A) Chúng ta kêu gọi toàn thể Hội Thánh và các lãnh đạo tổ chức chống lại cám dỗ trình bày thiếu thành thật về công tác của mình. Chúng ta dối trá khi phóng đại những báo cáo, dùng những số liệu vô căn cứ, hay bóp méo sự thật, nhằm đạt lợi ích riêng. Chúng ta xin Chúa thanh tẩy bằng sự thật, chấm dứt việc bóp méo, gian lận và phóng đại trong các báo cáo. Những người hỗ trợ tài chính cho các mục vụ cũng không nên đề ra những đòi hỏi phi thực tế rằng kết quả mục vụ phải có thể nhìn thấy và đo lường được, là những yêu cầu đôi khi vượt quá trách nhiệm giải trình hợp lý. Chúng ta hãy cùng phấn đấu để đạt đến sự chánh trực và trung thực hoàn toàn, chọn bước đi trong sự sáng và lẽ thật của Chúa, vì Chúa dò xét lòng người ta, và vui về sự ngay thẳng.[89]

5. Sống đơn giản, từ chối sùng bái lòng tham[90]

Sự phổ biến rao giảng và dạy dỗ ‘Tin Lành thịnh vượng’ trên khắp thế giới đã thu hút được những sự quan tâm đáng kể. Ở đây chúng ta định nghĩa Tin Lành thịnh vượng là sự dạy dỗ người tín hữu có quyền hưởng phước hạnh của sức khỏe và sự giàu có, và rằng họ có thể đạt được những phước hạnh đó qua việc chủ động tuyên xưng đức tin và ‘gieo giống,’ tức là ban cho và dâng hiến vật chất hay tài chánh. Sự dạy dỗ của Tin Lành thịnh vượng đã đi vào trong rất nhiều hệ phái trên khắp các châu lục.[91]

Chúng ta xác nhận ân điển và quyền năng siêu nhiên của Chúa, và chúng ta hoan nghênh sự tăng trưởng của các Hội Thánh và mục vụ dẫn đưa người khác đến việc bày tỏ đức tin trông cậy nơi Đức Chúa Trời hằng sống và năng quyền siêu nhiên của Ngài. Chúng ta tin vào năng quyền Thánh Linh. Tuy nhiên, chúng ta phủ nhận việc xem quyền năng siêu nhiên của Chúa như một cỗ máy tự động, có thể dùng kỹ thuật của con người để vận hành, hoặc có thể bị điều khiển bởi những ngôn từ, hành động, quà tặng, vật chất hay nghi thức của con người.

Chúng ta khẳng định Kinh Thánh có trình bày về sự thịnh vượng, và Kinh Thánh có nói về sự thịnh vượng vật chất (cả sức khỏe lẫn tài chính) khi dạy về các ơn phước Chúa ban. Tuy nhiên, chúng ta phủ nhận sự dạy dỗ đi ngược lại với Kinh Thánh rằng tình trạng thuộc linh của một người có thể được đo lường bằng sự giàu có vật chất, hay sự giàu có luôn là một dấu hiệu về ơn phước của Chúa. Kinh Thánh tỏ cho biết rằng người ta thường cũng có thể trở nên giàu có bằng cách áp bức, lừa lọc hay tham nhũng. Chúng ta cũng không cho rằng sự nghèo khó, bệnh tật hay chết sớm luôn là một dấu hiệu của sự rủa sả từ Chúa hoặc từ người khác, hoặc là bằng chứng của việc thiếu đức tin. Kinh Thánh phủ nhận tất cả những cách giải thích đơn giản như thế.

Chúng ta công nhận rằng việc tôn cao quyền năng và sự đắc thắng của Chúa là một việc làm tốt. Nhưng chúng ta tin rằng sự dạy dỗ của nhiều người hăng hái quảng bá Tin Lành thịnh vượng đã bóp béo Kinh Thánh cách nghiêm trọng; lối sống và hành vi của họ thường không theo nguyên tắc đạo đức và không giống với Đấng Christ; họ thường thay thế việc rao giảng Tin Lành bằng việc đi tìm kiếm phép lạ và thay thế lời kêu gọi đến sự ăn năn bằng lời kêu gọi dâng hiến tiền bạc về cho tổ chức của người diễn giả. Chúng ta đau buồn vì ảnh hưởng của sự dạy dỗ này trong rất nhiều Hội Thánh đã gây nên tổn hại cho người chăn bầy và khiến đời sống thuộc linh trở nên thiếu lành mạnh. Chúng ta vui mừng và mạnh mẽ ủng hộ cho bất kỳ một việc làm nào trong danh của Đấng Christ nhằm mục đích tìm kiếm sự chữa lành cho người bệnh hay giải phóng hoàn toàn con người ta khỏi sự nghèo đói và đau khổ. Tin Lành thịnh vượng không phải là giải pháp tối hậu cho nạn nghèo đói, và có thể khiến người ta đi chệch khỏi sứ điệp và phương tiện chính yếu đem lại sự cứu rỗi đời đời. Những sự dạy dỗ như vậy không đúng với Phúc Âm. Vì vậy, chúng ta kêu gọi không nên nhấn mạnh thái quá việc dạy dỗ về sự thịnh vượng vì điều đó không phù hợp với sự dạy dỗ Cơ Đốc cân bằng theo Kinh Thánh.

A) Chúng ta khẩn thiết kêu gọi các lãnh đạo Hội Thánh và tổ chức ở những nơi Tin Lành thịnh vượng đang phổ biến kiểm chứng sự dạy dỗ đó so với sự dạy dỗ và tấm gương Chúa Giê-xu cách cẩn trọng. Cụ thể hơn, tất cả chúng ta cần phải giải nghĩa và dạy dỗ những phân đoạn Kinh Thánh thường được dùng để hỗ trợ cho Tin Lành thịnh vượng trong bối cảnh trọn vẹn của Kinh Thánh, với sự cân bằng thích hợp. Khi Tin Lành thịnh vượng được dạy dỗ ở tại nơi nghèo đói, chúng ta phải cân bằng, dùng lòng thương xót thật và các hành động cụ thể khác nhằm đem lại công lý và sự biến đổi bền vững cho người nghèo. Trên tất cả, chúng ta phải thay thế tư lợi và lòng tham bằng sự dạy dỗ của Kinh Thánh về đức hy sinh và sự ban cho cách rộng rãi như là dấu chỉ người môn đệ thật của Đấng Christ. Chúng ta xác quyết lời kêu gọi lịch sử đến với lối sống bình dị của Phong trào Lausanne.

IIF. Hiệp tác với nhau trong thân thể của Đấng Christ để hiệp nhất trong sứ mạng Cơ Đốc

Phao-lô dạy chính Chúa là Đấng tạo dựng nên sự hiệp nhất Cơ Đốc, nền tảng của sự hiệp một là sự làm hòa giữa chúng ta với Chúa và giữa chúng ta với nhau. Sự làm hòa này đã được thành toàn bởi thập giá. Khi chúng ta sống trong sự hiệp một và cùng hiệp tác trong sứ mạng Cơ Đốc, chúng ta bày tỏ năng quyền siêu nhiên và vượt trên mọi rào cản văn hóa của thập tự giá. Nhưng khi chúng ta không có sự hiệp một và thất bại trong việc cộng tác với nhau, chúng ta làm mất giá trị của sứ mạng và sứ điệp Cơ Đốc, đồng thời chối bỏ quyền năng thập tự giá.

1. Hiệp một trong Hội Thánh

Một Hội Thánh chia rẽ sẽ không có sứ điệp nào để gởi đến cho một thế giới vốn đã bị chia rẽ. Sự thất bại của chúng ta trong việc sống hiệp một sẽ là trở ngại chính ảnh hưởng đến thẩm quyền và kết quả của sứ mạng Cơ Đốc.

A) Chúng ta đau xót về sự chia rẽ và bất hòa trong các Hội Thánh và tổ chức của chúng ta. Chúng ta thật lòng khẩn thiết mong mỏi mọi Cơ Đốc nhân theo đuổi lối sống bày tỏ ân điển và vâng theo sự kêu gọi của Phao-lô, ‘cố gắng duy trì sự hiệp nhất của Thánh Linh bằng sợi dây hòa bình.’

B) Mặc dầu sự hiệp một sâu sắc nhất là sự hiệp một thuộc linh, chúng ta cũng mong mỏi nhìn thấy một sự hiệp một hữu hình, thực tế, diễn ra trên đất này trong việc cùng theo đuổi sứ mạng Cơ Đốc. Vì vậy, chúng ta kêu gọi tất cả anh chị em Cơ Đốc trên toàn thế giới hãy vì lời làm chứng và sứ mạng chung của chúng ta mà chống cự lại sự cám dỗ gây chia rẽ thân thể của Đấng Christ, cũng như tìm kiếm những phương cách hòa giải và phục hồi sự hiệp một ở bất cứ nơi đâu có thể.

2. Hiệp tác truyền giáo toàn cầu

Hiệp tác truyền giáo không chỉ đơn thuần để việc truyền giáo có tính hiệu quả, mà còn là hành động mang tính chiến lược và thực tiễn bày tỏ sự đầu phục Chúa Giê-xu là Chúa của chúng ta. Khi đi truyền giáo, chúng ta cũng thường ưu tiên và giữ gìn các đặc trưng dân tộc, hệ phái, thần học… của riêng mình, và vì thế đã không nhờ cậy Chúa soi sáng cách đặt thứ tự ưu tiên và định hướng lòng nhiệt thành trong công việc của mình. Chúng ta phải đi xa hơn việc tuyên xưng đức tin; thẩm quyền tối hậu và vị trí trung tâm của Đấng Christ phải chi phối chiến lược, hành động, và sự hiệp nhất của chúng ta.

Chúng ta vui mừng về sự tăng trưởng và sự vững mạnh của những phong trào truyền giáo đang phát triển bên ngoài phương Tây, và mô hình ‘từ phương Tây đến tận cùng trái đất’ cũ kỹ đã đi đến hồi kết. Nhưng chúng ta cũng không chấp nhận tư tưởng cho rằng trách nhiệm truyền giáo đã được chuyển giao từ Hội Thánh phương Tây sang Hội Thánh ở các vùng đất khác. Thật vô nghĩa khi phê phán tính tự cao của phương Tây trong quá khứ, nhưng lại cho phép tính xấu đó được tồn tại ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La-tinh. Không một dân tộc, quốc gia hay châu lục nào có thể khẳng định đặc quyền là nguồn lực duy nhất hoàn tất Đại Mạng Lệnh. Chỉ có Chúa mới là Đấng nắm toàn quyền.

A) Chúng ta đứng chung với nhau với tư cách là Hội Thánh và các lãnh đạo tổ chức truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới, được kêu gọi để công nhận và chấp nhận lẫn nhau với cơ hội cống hiến bình đẳng cho công tác truyền giáo thế giới. Trong tinh thần đầu phục Đấng Christ, xin chúng ta hãy gạt đi sự nghi ngờ, tranh cạnh và lòng kiêu ngạo để sẵn lòng học hỏi từ những người mà Đức Chúa Trời sử dụng, thậm chí khi họ không cùng châu lục, không cùng tổ chức, không trong vòng quen biết, hoặc không chia sẻ thần học đặc thù của hệ phái chúng ta.

B) Việc cộng tác phải đi xa hơn việc chỉ hỗ trợ tài chính, và việc sử dụng tài chính không khôn ngoan thường hủy hoại và gây nên sự chia rẽ Hội Thánh. Chúng ta hãy dứt khoát chứng minh rằng Hội Thánh không hoạt động theo nguyên tắc ai có tiền nhiều nhất thì người đó có toàn quyền quyết định. Chúng ta hãy thôi áp đặt tên gọi, biểu ngữ, chương trình, hệ thống và phương pháp mà chúng ta ưa thích lên trên Hội Thánh ở những nơi khác. Thay vào đó, chúng ta hãy nỗ lực để đạt đến sự hiệp một chân thật giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu, giữa phương Đông và phương Tây, để đạt đến sự tương thuộc trong việc cho và nhận, và để cho sự tôn trọng phẩm giá làm minh chứng cho mối liên hệ thiết hữu và hợp tác thật sự trong công cuộc truyền giáo.

3. Sự cộng tác giữa nam giới và nữ giới

Kinh Thánh khẳng định rằng Đức Chúa Trời tạo dựng nên người nam và người nữ theo hình ảnh của Ngài và ban cho họ một quyền quản trị trái đất như nhau. Tội lỗi đã xâm nhập vào đời sống con người và dòng lịch sử bởi việc người nam và người nữ hành động nghịch cùng Chúa. Nhờ thập tự giá của Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã đem đến sự cứu rỗi, chấp nhận và sự hiệp một cho cả người nam và người nữ. Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Đức Chúa Trời đã tuôn đổ Thánh Linh của sự nói tiên tri trên mọi loại xác thịt, cả các con trai và con gái. Do đó, người nam và người nữ bình đẳng trong sự sáng tạo của Chúa, đồng phạm tội, nhưng cùng nhận sự cứu rỗi và sự ban cho Thánh Linh như nhau.[92]

Tất cả chúng ta, người nam và người nữ, dù kết hôn hay độc thân, đều có trách nhiệm sử dụng những ân tứ Chúa ban để đem lại ích lợi cho người khác, vì chúng ta là người quản lý các ân tứ để ca ngợi và làm vinh hiển Đấng Christ. Do đó, chúng ta chịu trách nhiệm giúp cho dân sự của Chúa sử dụng những ân tứ Chúa ban cho trong mọi lãnh vực phục vụ mà Chúa đang kêu gọi Hội Thánh.[93] Chúng ta không nên dập tắt Thánh Linh bằng cách xem nhẹ công tác của bất kỳ ai.[94] Hơn nữa, chúng ta xác định công tác phục vụ trong thân thể của Đấng Christ là một hành động ban cho, là trách nhiệm phục vụ mà chúng ta được Chúa kêu gọi, chứ không phải là một địa vị hay quyền lợi mà chúng ta đòi hỏi.

A) Chúng ta duy trì quan điểm lịch sử của phong trào Lausanne: ‘xác nhận rằng sự ban cho Thánh Linh được tuôn đổ trên khắp dân sự Chúa, cả người nam và người nữ, và sự cộng tác trong công tác truyền giáo phải được hoan nghênh vì lợi ích chung.’[95] Chúng ta công nhận sự đóng góp và hy sinh to lớn mà nữ giới đã thực hiện trong công tác truyền giáo thế giới, phục vụ cho cả nam giới lẫn nữ giới từ những thời kỳ Kinh Thánh xa xưa cho đến hiện tại.

B) Chúng ta công nhận những người chân thành tìm cách trung tín và vâng lời Kinh Thánh cũng có thể có những quan điểm khác nhau. Một số người trong chúng ta giải nghĩa sự dạy dỗ của các sứ đồ cho rằng nữ giới không nên rao giảng và dạy dỗ, hoặc họ có thể giảng dạy nhưng không thể có thẩm quyền lãnh đạo trên nam giới. Một số khác giải nghĩa sự bình đẳng thuộc linh của phụ nữ, rằng nữ giới đã sử dụng ân tứ tiên tri để dạy dỗ của những người nữ trong Hội Thánh thời Tân Ước, và họ đã cho các Hội Thánh nhóm lại trong nhà của mình, ngụ ý rằng ân tứ thuộc linh của việc lãnh đạo và dạy dỗ luôn dành cho cả người nam lẫn người nữ.[96] Chúng ta kêu gọi những người có quan điểm khác nhau hãy:

1. Chấp nhận và không lên án nhau, vì dầu chúng ta có quyền bất đồng, nhưng không có quyền chia rẽ, nói xấu hay hành động thù nghịch nhau;[97]

2. Cùng nghiên cứu Kinh Thánh kỹ lưỡng, xem xét bối cảnh và văn hóa của các trước giả Kinh Thánh lẫn độc giả hiện thời;

3. Nhận thức rằng bất cứ nơi nào có sự đau khổ thì chúng ta phải bày tỏ lòng thương xót; nơi nào có sự bất công và thiếu chính trực, chúng ta phải lên tiếng; và nơi nào có sự chống cự lại công tác Thánh Linh đang hành động qua các người nam và người nữ của Chúa, thì chúng ta phải ăn năn;

4. Cả người nam lẫn ngươi nữ phải cam kết tuân theo mẫu mực phản chiếu ra tinh thần tôi tớ của Chúa Giê-xu, chứ không phải nỗ lực để có quyền lực và địa vị thế gian.

C) Chúng ta kêu gọi các Hội Thánh thừa nhận những phụ nữ tin kính, là những người dạy dỗ và làm gương về việc lành, như Sứ Đồ Phao-lô đã truyền,[98] cũng như mở rộng hơn nữa những cơ hội giáo dục, phục vụ, và lãnh đạo dành cho nữ giới, đặt biệt là ở những nơi Tin Lành còn bị các truyền thống văn hóa bất công cản trở. Chúng ta mong mỏi nữ giới sẽ không còn bị cản trở trong việc sử dụng những ân tứ Chúa ban cho hay đi theo sự kêu gọi của Chúa cho đời sống của họ.

4. Giáo dục thần học và truyền giáo

Tân Ước bày tỏ mối liên hệ hiệp tác chặt chẽ giữa công tác truyền giảng và lập Hội Thánh (như Phao-lô đã làm) với công việc nuôi dưỡng Hội Thánh (như Ti-mô-thê và A-bô-lô đã làm). Đại Mạng Lệnh bao gồm cả hai công tác này, trong đó Chúa Giê-xu miêu tả việc môn đệ hóa trong khía cạnh của việc truyền giảng (trước khi ‘làm báp-têm cho họ’) và ‘dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi.’ Dạy đạo, hay giáo dục thần học, là một phần của sứ mạng Cơ Đốc theo sau công tác truyền giảng.[99]

Sứ mạng của Hội Thánh là phụng sự sứ mạng của Đức Chúa Trời. Giáo dục thần học có mục đích làm cho vững mạnh và hỗ trợ sứ mạng của Hội Thánh. Giáo dục thần học trước nhất là nhằm đào tạo những con người sẽ lãnh đạo Hội Thánh trong vài trò mục sư-giáo sư, trang bị để họ dạy dỗ lẽ thật Lời Chúa cách chính xác, phù hợp và rõ ràng; và sau đó là để trang bị cho dân sự sự hiểu biết và khả năng truyền đạt lẽ thật Phúc Âm một cách hợp lý trong mọi nền văn hóa. Giáo dục thần học là một cuộc chiến thuộc linh, vì ‘chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ.’[100]

A) Người lãnh đạo Hội Thánh và các tổ chức truyền giáo cần phải nhận ra rằng giáo dục thần học là một phần của sứ mạng Cơ Đốc. Người thực hiện giáo dục thần học cần phải đảm bảo công tác này sẽ hỗ trợ cho sứ mạng Cơ Đốc, vì mục tiêu của giáo dục thần học không phải nằm ở trong lĩnh vực học thuật, nhưng ở việc phục vụ cho sứ mạng của Hội Thánh trong thế gian.

B) Giáo dục thần học có tính kết nối với mọi hoạt động thực hành sứ mạng Cơ Đốc. Chúng ta khích lệ và hỗ trợ tất cả những ai cung cấp giáo dục thần học theo Kinh Thánh, dù chính thức hay không chính thức, ở cấp độ địa phương, quốc gia, khu vực hay quốc tế.

C) Chúng ta kêu gọi các tổ chức và chương trình giáo dục thần học thực hiện việc ‘rà soát’ lại chương trình, tổ chức, và đặc tính của các chương trình giáo dục để đảm bảo các chương trình này thật sự phục vụ cho những nhu cầu và cơ hội mà Hội Thánh đang đối diện trong bối cảnh văn hóa của mình.

D) Chúng ta mong ước những người ra đi mở mang Hội Thánh và những người giảng dạy thần học sẽ đặt Kinh Thánh làm trung tâm của sự hiệp tác giữa họ, không chỉ bằng lời nói nhưng phải bằng các hành động thực tiễn. Người truyền đạo phải dùng Kinh Thánh làm nguồn tài liệu tối cao về nội dung và thẩm quyền của sứ điệp. Những người giáo dục thần học phải tái xác lập việc học Kinh Thánh là cốt lõi của giáo dục thần học, được kết hợp và lồng ghép vào các lĩnh vực nghiên cứu và áp dụng thần học khác. Nhưng trên hết, giáo dục thần học trang bị cho các mục sư-giáo sư để thực hiện công tác chính yếu của họ là giảng và dạy Kinh Thánh.[101]

Kết Luận

Đức Chúa Trời qua Đấng Christ đã phục hòa thế gian trở lại cùng Ngài. Tại Cape Town, Thánh Linh kêu gọi Hội Thánh của Đấng Christ trở nên những đại sứ của tình yêu giảng hòa của Đức Chúa Trời dành cho thế gian này. Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa ban Lời Chúa khi dân sự hiệp nhau lại trong danh Đấng Christ, vì chính Đức Chúa Giê-xu Christ ở cùng và đi giữa chúng ta.[102]

Chúng ta cần lắng nghe tiếng Chúa Giê-xu. Trong ơn thương xót và qua Thánh Linh, Đấng Christ phán cùng dân sự đang lắng nghe. Qua nhiều phần giải nghĩa Kinh Thánh, những bài trình bày và thảo luận nhóm, có hai chủ đề chính thường được lặp lại mà chúng ta nghe thấy:

  • Nhu cầu môn đệ hóa để dân sự hết lòng theo Chúa, dẫn đến sự trưởng thành, sự tăng trưởng về chiều sâu lẫn số lượng Cơ Đốc nhân;
  • Nhu cầu đem lại sự làm hòa nhờ nhìn xem nơi thập giá, theo đuổi sự hiệp một, tăng trưởng trong tình yêu thương cũng như trong đức tin và lòng trông cậy.

Môn đệ hóa và sự làm hòa đều là những điều không thể thiếu được trong sứ mạng của chúng ta. Chúng ta đau buồn vì những sự nông cạn và thiếu sót đáng xấu hổ còn tồn tại trong công tác môn đệ hóa, cũng như sự chia rẽ và thiếu tình yêu thương giữa vòng chúng ta. Cả hai điều này làm tổn hại nghiêm trọng đến lời chứng của Tin Lành.

Chúng ta nhận biết tiếng Chúa Giê-xu trong cả hai sự thách thức trên, vì chúng tương ứng với hai điều được Đấng Christ nhấn mạnh hơn hết cho Hội Thánh như đã được ký thuật lại trong các sách Phúc Âm. Trong Phúc Âm Ma-thi-ơ, Chúa Giê-xu trao cho chúng ta một công tác chính yếu – đó là môn đệ hóa muôn dân. Trong Phúc Âm Giăng, Chúa Giê-xu đã trao cho chúng ta một phương pháp chính yếu – đó là yêu mến lẫn nhau để thế gian sẽ biết chúng ta là môn đồ của Chúa. Chúng ta không nên ngạc nhiên, nhưng thay vào đó hãy vui mừng nghe tiếng Chúa, vì Đấng Christ cũng truyền cho dân sự ngày nay điều mà Ngài đã phán 2,000 năm trước. Môn đệ hóa. Yêu thương nhau.

Môn đệ hóa

Sứ mạng Cơ Đốc đòi hỏi rằng những ai xưng là môn đồ Đấng Christ phải trở nên giống như Ngài, bằng cách mang lấy thập tự, tự bỏ mình đi và bước theo Chúa trong sự khiêm nhường, yêu thương, chánh trực, hào phóng và tinh thần phục vụ. Thất bại trong việc trở nên người môn đệ và môn đệ hóa là sự thất bại sâu xa nhất trong sứ mạng của chúng ta. Một lần nữa, lời kêu gọi của Đấng Christ dành cho Hội Thánh đến với chúng ta qua những trang sách Phúc Âm: ‘Hãy đến và theo ta’; ‘Hãy đi và môn đệ hóa.’

Yêu thương nhau

Chúa Giê-xu lặp lại ba lần, ‘Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy.’ [103] Chúa Giê-xu đã cầu nguyện ba lần, ‘để ai nấy hiệp làm một, Cha ôi.’[104] Điều răn và lời cầu nguyện của Ngài là sứ mạng của chúng ta. ‘Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.’ ‘Xin cho họ hiệp một, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến.’ Chúa Giê-xu đã nhấn mạnh điều này hết mức. Việc truyền rao về Chúa có tốt hay không là do việc chúng ta có vâng lời Ngài hay không. Một lần nữa chúng ta lắng nghe lời kêu gọi của Đấng Christ và các sứ đồ: ‘hãy yêu thương nhau’; ‘cố gắng duy trì sự hiệp nhất của Thánh Linh bằng sợi dây hòa bình.’[105] Vì ích lợi cho công việc Chúa, chúng ta làm mới lại cam kết của mình trong việc vâng theo ‘lời rao truyền đã nghe từ lúc ban đầu.’[106] Khi Cơ Đốc nhân sống trong tình yêu hiệp nhất thuận hòa nhờ năng quyền của Thánh Linh, thế gian sẽ biết đến Chúa Giê-xu, cũng biết rằng chúng ta là môn đệ của Ngài, và biết về Cha là Đấng đã sai Ngài đến.[107]

Trong danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh, và trên nền tảng đức tin chỉ đặt nơi lòng thương xót và ân điển cứu rỗi vô cùng của Chúa, chúng ta tha thiết trông mong và cầu nguyện cho một sự đổi mới trong công tác môn đệ hóa, và cho một sự biến đổi để chúng ta biết yêu thương theo gương Đấng Christ.

Đây là lời cầu nguyện và cam kết dành cho Chúa mà chúng ta yêu kính, để đem lại lợi ích cho thế gian mà chúng ta muốn giúp đỡ trong danh Ngài.

  1. Ga-la-ti 5:6; Giăng 14:21; 1 Giăng 4:9, 19
  2. Ma-thi-ơ 22:37-40; Rô-ma 13:8-10; Ga-la-ti 5:22; 1 Phi-e-rơ 1:22; 1 Giăng 3:14; 4:7-21; Giăng 13:34-35; Giăng 1:18 và 1 Giăng 4:12; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3; 1 Cô-rinh-tô 13:8, 13
  3. Phục truyền 7:7-9; Ô-sê 2:19-20, 11:1; Thi Thiên 103, 145:9, 13, 17; Ga-la-ti 2:20; Phục truyền 10:12-19
  4. Phục truyền 6:4-5; Ma-thi-ơ 22:37; Lê-vi 19:18, 34; Ma-thi-ơ 5:43-45; Giăng 15:12; Ê-phê-sô 4:32; Giăng 3:16-17
  5. Rô-ma 5:5; 2 Cô-rinh-tô 5:14; Khải huyền 2:4
  6. Phục truyền 4:35, 39; Thi thiên 33:6-9; Giê-rê-mi 10:10-12; Phục-truyền 10:14; Ê-sai 40:22-24; Thi thiên 33:10-11, 13-15; Thi Thiên 96:10-13; Thi thiên 36:6; Ê-sai 45:22
  7. Phục truyền 4 và 6
  8. John Stott, Thông điệp sách Rô-ma, Bộ sách Sứ điệp Thánh Kinh cho thời đại hôm nay (Leicester và Downers Grove: IVP, 1994), p. 53.
  9. Thi thiên 138:2
  10. Giăng 14:6; Rô-ma 8:14-15; Ma-thi-ơ 6:9; Giăng 14:21-23
  11. Phục truyền 32:6, 18; 1:31; 8:5; Ê-sai 1:2; Ma-la-chi 1:6; Giê-rê-mi 3:4, 19; 31:9; Ô-sê 11:2; Thi thiên 103:13; Ê-sai 63:16; 64:8-9.
  12. Giăng 3:16; 1 Giăng 3:1; Rô-ma 8:32; Hê-bơ-rơ 9:14; Ga-la-ti 2:20; 1:4-5
  13. Ma-thi-ơ 5:9, 16, 43-48; 6:4, 6, 14-15, 18, 25-32; 7:21-23
  14. Giăng 1:3; 1 Cô-rinh-tô 8:4-6; Hê-bơ-rơ 1:2; Cô-lô-se 1:15-17; Thi thiên 110:1; Mác 14: 61-64; Ê-phê-sô 1:20-23; Khải huyền 1:5; 3:14; 5:9-10; Rô-ma 2:16; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:5-10; 2 Cô-rinh-tô 5:10; Rô-ma 14:9-12; Ma-thi-ơ 1:21; Lu-ca 2:30; Công vụ 4:12; 5:11; Rô-ma 10:9; Tít 2:13; Hê-bơ-rơ 2:10; 5:9; 7:25; Khải huyền 7:10
  15. Lu-ca 6:46; 1 Giăng 2:3-6; Ma-thi-ơ 7:21-23
  16. Ma-thi-ơ 16:16; Giăng 20:28; 1 Phi-e-rơ 1:8; 1 Giăng 3:1-3; Công vụ 4:12
  17. Sáng thế 1:1-2; Thi thiên 104: 27-30; Gióp 33:4; Xuất 35:30-36:1; Các quan xét 3:10, 6:24, 13:25; Dân số 11:16-17, 29; Ê-sai 63:11-14; 2 Phi-e-rơ 1:20-21; Mi-chê 3:8; Nê-hê-mi 9:20, 30; Xa-cha-ri 7:7-12; Ê-sai 11:1-5; 42:1-7; 61:1-3; 32:15-18; Ê-xê-chi-ên 36:25-27; 37:1-14; Giô-ên 2:28-32
  18. Công vụ 2; Ga-la-ti 5:22-23; 1 Phi-e-rơ 1:2; Ê-phê-sô 4:3-6; 4:11-12; Rô-ma 12:3-8; 1 Cô-rinh-tô 12:4-11; 1 Cô-rinh-tô 14:1; Giăng 20:21-22; 14:16-17; 14:25-26; 16:12-15; Rô-ma 8:26-27; Ê-phê-sô 6:10-18; Giăng 4:23-24; 1 Cô-rinh-tô 12:3; 14:13-17; Ma-thi-ơ 10:17-20; Lu-ca 21:15
  19. Thi thiên 119:47, 97; 2 Ti-mô-thê 3:16-17; 2 Phi-e-rơ 1:21
  20. Phục truyền 30:14; Ma-thi-ơ 7:21-27; Lu-ca 6:46; Gia-cơ 1:22-24
  21. Tuyên ngôn Manila, đoạn 7; Tít 2:9-10
  22. Thi thiên 145:9, 13, 17; 104:27-30; 50:6; Mác 16:15; Cô-lô-se 1:23; Ma-thi-ơ 28:17-20; Ha-ba-cúc 2:14
  23. Thi thiên 24:1; Phục truyền 10:14
  24. Cô-lô-se 1:15-20; Hê-bơ-rơ 1:2-3
  25. Công vụ 17:26; Phục truyền 32:8; Sáng thế 10:31-32; 12:3; Khải huyền 7:9-10; 21:24-27
  26. Công vụ 10:35; 14:17; 17:27
  27. Thi thiên 145:9, 13, 17; 147:7-9; Phục truyền 10:17-18
  28. Sáng thế 18:19; Xuất 23:6-9; Phục truyền 16:18-20; Gióp 29:7-17; Thi thiên 72:4, 12-14; Thi thiên 82; Châm ngôn 31:4-9; Giê-rê-mi 22:1-3; Đa-ni-ên 4:27
  29. Xuất 22:21-27; Lê-vi 19:33-34; Phục truyền 10:18-19; 15:7-11; Ê-sai 1:16-17; 58:6-9; A-mốt 5:11-15, 21-24; Thi thiên 112; Gióp 31:13-23; Châm ngôn 14:31; 19:17; 29:7; Ma-thi-ơ 25:31-46; Lu-ca 14:12-14; Ga-la-ti 2:10; 2 Cô-rinh-tô 8-9; Rô-ma 15:25-27; 1 Ti-mô-thê 6:17-19; Gia-cơ 1:27; 2:14-17; 1 Giăng 3:16-18
  30. Công ước Lausanne, đoạn 5
  31. Lê-vi 19:34; Ma-thi-ơ 5:43-4
  32. Ma-thi-ơ 5:38-39; Lu-ca 6:27-29; 23:34; Rô-ma 12:17-21; 1 Phi-e-rơ 3:18-23; 4:12-16
  33. Rô-ma 13:4
  34. 1 Giăng 2:15-17
  35. Sáng thế 3; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9
  36. Mác 1:1, 14-15; Rô-ma 1:1-4; Rô-ma 4; 1 Cô-rinh-tô 15:3-5; 1 Phi-e-rơ 2:24; Cô-lô-se 2:15; Hê-bơ-rơ 2:14-15; Ê-phê-sô 2:14-18; Cô-lô-se 1:20; 2 Cô-rinh-tô 5:19
  37. Rô-ma 4; Phi-líp 3:1-11; Rô-ma 5:1-2; 8:1-4; Ê-phê-sô 1:7; Cô-lô-se 1:13-14; 1 Phi-e-rơ 1:3; Ga-la-ti 3:26–4:7; Ê-phê-sô 2:19-22; Giăng 20:30-31; 1 Giăng 5:12-13; Rô-ma 8:31-39
  38. Rô-ma 1:16
  39. Ga-la-ti 5:6
  40. Ê-phê-sô 2:10
  41. Gia-cơ 2:17
  42. Tít 2:11-14
  43. Rô-ma 15:18-19; 16:19; 2 Cô-rinh-tô 9:13
  44. Rô-ma 1:5; 16:26
  45. Sáng thế 15:6; Ga-la-ti 6:6-9; Hê-bơ-rơ 11:8; Sáng thế 22:15-18; Gia-cơ 2:20-24
  46. Rô-ma 8:4
  47. Giăng 14:21
  48. 1 Giăng 2:3
  49. 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13-14; 1 Giăng 4:11; Ê-phê-sô 5:2; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3; 4:9-10; Giăng 13:35
  50. Giăng 13:34-35; 17:21
  51. Hê-bơ-rơ 13:1-3; 1 Cô-rinh-tô 12:26; Khải huyền 1:9
  52. Khải huyền 3:17-20
  53. Ê-phê-sô 1:9-10; Cô-lô-se 1:20; Sáng thế 1-12; Khải huyền 21-22
  54. Công ước Lausanne, đoạn 4 và 5
  55. Tuyên ngôn Mi-chê về sứ mạng trọn vẹn (The Micah Declaration on Integral Mission)
  56. 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3
  57. Ê-phê-sô 2:10
  58. Cô-lô-se 3:23
  59. Vì ‘trường đại học là một điểm tựa rõ ràng để có thể dựa vào đó mà di chuyển thế giới. Không một điều gì tốt hơn cho Hội Thánh và cho công tác rao truyền Phúc Âm cho bằng việc nỗ lực đem các trường đại học về cho Đấng Christ. Không một phương tiện nào khác có sức ảnh hưởng mạnh hơn các đại học, thay đổi các đại học là thay đổi thế giới.’ Charles Habib Malik, nguyên chủ tịch Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, trích trong A Christian Critique of the University, Pascal Lectures năm 1981.
  60. Ê-phê-sô 1:10; 2:1-16; 3:6; Ga-la-ti 3:6-8. (tham khảo thêm Mục VI về vấn đề hiệp một và hiệp tác bên trong Hội Thánh).
  61. Ê-phê-sô 2:11-22; Rô-ma 3:23; Rô-ma 10:12-13; Ê-phê-sô 2:18
  62. Phục truyền 32:8; Công vụ 17:26
  63. Khải Huyền 7:9; 21:3, trong đó viết, ‘chúng sẽ làm dân Ngài’ (từ dân ở thể số nhiều).
  64. Công vụ 4:32-37; Ga-la-ti 2:9-10; Rô-ma 15:23-29; 2 Cô-rinh-tô 8 – 9
  65. 2 Cô-rinh-tô 5:16
  66. Giăng 9:1-3
  67. Tuyên ngôn Manila, Mục 12
  68. 1 Phi-e-rơ 3:15-16. so sánh với Công vụ 19:37
  69. 2 Cô-rinh-tô 12:9-10; 4:7-10
  70. Tuyên ngôn Manila, Mục 12
  71. 2 Cô-rinh-tô 2:15
  72. Công vụ 11:20-24
  73. Công vụ 15:19
  74. Rô-ma 14:1-3
  75. Sáng thế 50:20
  76. Lê-vi 19:33-34; Phục truyền 24:17; Ru-tơ 2; Job 29:16; Ma-thi-ơ 25:35-36; Luke 10:25-37; 14:12-14; Rô-ma 12:13; Hê-bơ-rơ 13:2-3; 1 Phi-e-rơ 4:9
  77. Giê-rê-mi 29:7
  78. Giê-rê-mi 29:7; 1 Phi-e-rơ 2:13-17; 1 Ti-mô-thê 2:1-2; Rô-ma 13:1-7; Xuất 1:15-21; Đa-ni-ên 6; Công vụ 3:19-20; 5:29
  79. Ê-phê-sô 4:11-12
  80. 1 Ti-mô-thê 3:1-13; Tít 1:6-9; 1 Phi-e-rơ 5:1-3
  81. Mác 9:33-37
  82. Mặc dầu được chuyển ngữ khác nhau, những phần Kinh Thánh sau đều dùng cùng động từ “bước đi”: Ê-phê-sô 2:2; 2:10; 4:1; 4:17; 5:2; 5:8; 5:15
  83. Ê-phê-sô 4:16-31
  84. Ê-phê-sô 5:1-7
  85. Ê-phê-sô 5:31; 2:15
  86. Ê-phê-sô 5:15 – 6:4
  87. Ê-phê-sô 5:8-9
  88. Ê-phê-sô 5:10
  89. 1 Sử ký 29:17
  90. Ê-phê-sô 5:5
  91. Tham khảo thêm phần văn bản đầy đủ của The Akropong Statement: A Critique of the Prosperity Gospel, tổng hợp từ nhiều nhà thần học Châu Phi, được tổ chức bởi Nhóm Công tác Thần học Lausanne, tại địa chỉ: www.lausanne.org/akropong
  92. Sáng thế 1:26-28; Sáng thế 3; Công vụ 2:17-18; Ga-la-ti 3:28; 1 Phi-e-rơ 3:7
  93. Rô-ma 12:4-8; 1 Cô-rinh-tô 12:4-11; Ê-phê-sô 4:7-16; 1 Phi-e-rơ 4:10-11
  94. 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:19-20; 1 Ti-mô-thê 4:11-14
  95. Tuyên ngôn Manila, Lời xác quyết 14
  96. 1 Ti-mô-thê 2:12; 1 Cô-rinh-tô 14:33-35; Tít 2:3-5; Công vụ 18:26; 21:9; Rô-ma 16:1-5, 7; Phi-líp 4:2-3; Cô-lô-se 4:15; 1 Cô-rinh-tô 11:5; 14:3-5
  97. Rô-ma 14:1-13
  98. Tít 2:3-5
  99. Cô-lô-se 1:28-29; Công vụ 19:8-10; 20:20, 27; 1 Cô-rinh-tô 3:5-9
  100. 2 Cô-rinh-tô 10:4-5
  101. 2 Ti-mô-thê 2:2; 4:1-2; 1 Ti-mô-thê 3:2b; 4:11-14; Tít 1:9; 2:1
  102. Lê-vi 26:11-12; Ma-thi-ơ 18:20; 28:20
  103. Giăng 13:34; 15:12; 17
  104. Giăng 17:21-23
  105. Ê-phê-sô 4:1-6; Cô-lô-se 3:12-14; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:9-10; 1 Phi-e-rơ 1:22; 1 Giăng 3:11-14; 4:7-21
  106. 1 Giăng 3:11
  107. Vào tháng 10 năm 2011, mục IIA6 và IIC5 đã có một vài thay đổi nhỏ. Những thay đổi này được thể hiện trong Tài Liệu Hướng Dẫn Nghiên Cứu và Các Giáo Trình Nghiên Cứu Cam Kết Cape Town.

25 Jan 2011

Foundational Statements

2010 Cape Town